Liên kết vùng để tạo động lực tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Kinh tế 10:20 | 31/01/2026 Hồ Thủy Tiên
Kết quả hồi quy trên 6 vùng kinh tế - xã hội cho thấy liên kết vùng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tích cực của phân cấp tài khóa và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế, trong khi làm phát lại là yếu tố cản trở sự tăng trưởng. Từ các kết quả trên, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp và kiến nghị liên quan đến liên kết vùng nhằm tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

Hồ Thủy Tiên; Email: tienht@ufm.edu.vn

Nông Thị Như Mai; Email: ntnmai@ufm.edu.vn

Trần Nguyễn Khánh Hải; Email: khanhhai@ufm.edu.vn

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Nguyễn Thị Hoài Trang; Email: n.hoai.trang@gmail.com

Trường Cao đẳng xây dựng TP. Hồ Chí Minh

Lâm Đài Trang; Email: daitranglam98@gmail.com

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Tóm tắt

Nghiên cứu này áp dụng các mô hình hồi quy không gian để xem xét vai trò của liên kết vùng trong việc tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2023. Kết quả hồi quy trên 6 vùng kinh tế - xã hội cho thấy liên kết vùng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tích cực của phân cấp tài khóa và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế, trong khi làm phát lại là yếu tố cản trở sự tăng trưởng. Từ các kết quả trên, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp và kiến nghị liên quan đến liên kết vùng nhằm tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

Từ khóa: Liên kết vùng, tăng trưởng kinh tế, phân cấp tài khóa, hồi quy không gian

Summary

This study employs spatial econometric regression models to investigate the role of regional linkages in stimulating economic growth in Viet Nam over the period 2009-2023. The regression results for six socio-economic regions reveal that regional cooperation constitutes a key driver of regional economic expansion. Furthermore, the study provides empirical evidence that fiscal decentralization and foreign direct investment exert positive impacts on economic growth, whereas inflation acts as a major constraint on growth. On the basis of these findings, the study proposes several solutions and policy recommendations aimed at strengthening regional linkages to enhance Viet Nam’s economic growth performance.

Keywords: Regional linkages, economic growth, fiscal decentralization, spatial econometric regression

GIỚI THIỆU

Thúc đẩy liên kết vùng được xem là một trong những nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong những năm vừa qua. Liên kết vùng cũng là nội dung quan trọng được đề cập đến trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII cũng như trong kế hoạch phát triển kinh tế trung hạn 2021-2025 và Chiến lược triển kinh tế - xã hội 2021-2030. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 và những tác động tiêu cực của nó đã càng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh liên kết vùng trong phục hồi phát triển kinh tế trong và sau dịch COVID-19 ở mỗi địa phương trên cả nước. Việc hoàn thiện thể chế liên kết vùng giai đoạn 2021-2030 nhằm tăng cường vai trò điều phối liên kết vùng của chính quyền trung ương, tạo kênh thông tin, thúc đẩy liên kết chính quyền địa phương trong vùng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh vùng, huy động đa dạng các nguồn lực để hỗ trợ các hoạt động, dự án liên kết vùng, tận dụng nội lực và ngoại lực của các địa phương trong vùng, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội vùng bền vững.

Về mặt khoa học, các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng, để phát triển kinh tế địa phương, sự hợp tác giữa các vùng là cần thiết để tối đa hóa lợi thế kinh tế theo quy mô và đạt được những lợi ích từ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các vùng. Sự liên kết vùng từ đó cũng tạo ra những kết quả tối ưu hơn (Im, 2015; Li và cộng sự, 2025; Ling và Jiang, 2013; Olberding, 2009; Pomerlyan và Belitski, 2024; Wu và Hui, 2021). Liên kết vùng không chỉ giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh mà còn là tiền đề tạo điều kiện để từng địa phương phát huy những tiềm năng, lợi thế đặc thù về mặt kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng - an ninh (Phạm Quốc Thành, 2017; Nguyễn Thị Như Mai, 2022; Vũ Quỳnh Nam, 2023). Tuy nhiên, lược khảo cho thấy các nghiên cứu tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở phân tích thực trạng và đưa ra những kiến nghị dưới góc độ chủ quan của người nghiên cứu mà thiếu bằng chứng thực nghiệm cụ thể. Đặc biệt, rất ít nghiên cứu tại Việt Nam xây dựng được mô hình đánh giá tác động của liên kết vùng đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này tìm cách lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách đánh giá tác động của liên kết vùng đến tăng trưởng kinh tế tại 6 vùng kinh tế - xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2023 bằng kỹ thuật hồi quy không gian. Kết quả nghiên cứu sẽ là căn cứ để đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy liên kết vùng tại Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Theo Olberding (2009), để phát triển kinh tế địa phương, sự hợp tác giữa các vùng là cần thiết để tối đa hóa lợi thế kinh tế theo quy mô và đạt được những lợi ích từ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các vùng. Sự liên kết vùng từ đó cũng tạo ra những kết quả tối ưu hơn. Kết quả nghiên cứu trên 244 quan sát tại khu vực đô thị Mỹ trong giai đoạn 1980-1997 cho thấy các khu vực đô thị có sự liên kết khu vực để phát triển kinh tế đã có mức tăng việc làm lớn hơn trong thời gian nghiên cứu so với những khu vực không có liên kết.

Tại Hàn Quốc, Choe (2011) nhận thấy, mặc dù chính quyền địa phương có thẩm quyền hoạch định chính sách riêng nhưng sự thiếu kinh nghiệm, kiến thức và thể chế để phát triển kinh tế địa phương đã dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Từ năm 2008, chính phủ đã thiết lập nguyên tắc hợp tác liên vùng/liên địa phương như một phương tiện mới cho các chính sách phát triển vùng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của địa phương/khu vực thông qua các chính sách địa phương hóa tự lực hiệu quả, nhấn mạnh vai trò của chính quyền trung ương chỉ với tư cách là người điều phối chứ không phải là người thực hiện hoặc kiểm soát. Hiện nay, sự hợp tác giữa các địa phương trở nên quan trọng hơn đối với các chính quyền địa phương có nguồn lực, thể chế hoặc năng lực đổi mới hạn chế. Sự hợp tác giữa các vùng có thể góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các chính quyền địa phương tham gia, bằng cách chia sẻ kinh nghiệm cá nhân và bí quyết liên quan đến quản lý dự án thành công và đổi mới công nghệ.

Nghiên cứu của Im (2015) sử dụng kết quả khảo sát trên 112 mối quan hệ hợp tác của chính quyền địa phương ở Hàn Quốc và phân tích hồi quy 3 bước của Baron và Kenny. Kết quả cho thấy việc hợp tác giữa các địa phương ở những dự án hiện tại không chỉ góp phần phát triển kinh tế địa phương mà còn tăng khả năng thực hiện thêm các dự án khác trong tương lai. Do đó, sự liên kết giữa các địa phương ngày càng đóng vai trò quan trọng và là một giải pháp thay thế cho các chiến lược dựa trên cạnh tranh truyền thống để phát triển kinh tế địa phương.

Tại Trung Quốc, Ling và Jiang (2013) cho rằng trong xu thế hội nhập khu vực, sự hợp tác liên kết giữa các địa phương là một chiến lược quan trọng và cần thiết được chính quyền địa phương lựa chọn dựa trên vai trò là nhà cung cấp dịch vụ công, xét đến áp lực nâng cao năng lực quản trị và lợi thế liên kết vùng. Wu và Hui (2021) áp dụng lý thuyết thông tin tương hỗ và ước tính mật độ hạt nhân (Kernel Density Estimation - KDE) để nghiên cứu sự liên kết kinh tế giữa các tỉnh trong Vành đai kinh tế sông Hoàng Hà - Trung Quốc trong giai đoạn 2015-2020. Kết quả cho thấy có sự liên kết kinh tế sâu rộng giữa các tỉnh trong Vành đai kinh tế sông Hoàng Hà, nhưng mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế rất khác nhau trong các thời kỳ khác nhau. Khi nền kinh tế hoặc thị trường vốn tăng trưởng quá nóng, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các tỉnh mạnh hơn và ngược lại, sự phụ thuộc này sẽ giảm đi khi kinh tế phát triển chậm lại hoặc tổng cầu giảm tương đối. Điều này cho thấy phát triển kinh tế và vận hành thị trường vốn có tác động đáng kể đến sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế khu vực.

Banaszewska và cộng sự (2022) áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất có trọng số và mô hình tác động cố định 2 chiều để kiểm tra xem việc liên kết hợp tác giữa các thành phố trong các chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp địa phương có tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế địa phương hay không. Kết quả cho thấy việc liên kết giữa các thành phố phần nào tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có một số hạn chế khi sử dụng thước đo hiệu quả kinh tế địa phương chưa đầy đủ.

Tại Việt Nam, vấn đề liên kết vùng để thúc đẩy kinh tế cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nguyễn Văn Huân (2012) tổng hợp những lý luận liên quan đến liên kết vùng, đồng thời đánh giá thực trạng và đề xuất một số kiến nghị thúc đẩy liên kết giữa các địa phương tại Việt Nam. Việc đánh giá thực trạng liên kết vùng và đề xuất các giải pháp phù hợp cũng được thực hiện trong nhiều nghiên cứu như Trần Thị Thu Hương và Lê Viết Thái (2015), Phạm Quốc Thành (2017), Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2022), Vũ Quỳnh Nam (2023). Các nghiên cứu này đều cho rằng liên kết vùng không chỉ giúp tăng cường lợi thế cạnh tranh mà còn là tiền đề tạo điều kiện để từng địa phương phát huy những tiềm năng, lợi thế đặc thù về mặt kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Một hướng nghiên cứu khác như Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2022) áp dụng nghiên cứu định tính để tổng hợp kinh nghiệm phát triển vùng tại một số quốc gia châu Á như Indonesia, Hàn Quốc và Trung Quốc, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định chính sách thúc đẩy liên kết vùng tại Việt Nam.

Qua lược khảo có thể thấy liên kết vùng là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu tại Việt Nam, mới chỉ dừng lại ở phân tích thực trạng và đưa ra những kiến nghị dưới góc độ chủ quan của người nghiên cứu mà thiếu bằng chứng thực nghiệm cụ thể. Ngoài ra, với phạm vi nghiên cứu là từng khu vực kinh tế của Việt Nam, những khuyến nghị về chính sách liên quan đến liên kết vùng chỉ phù hợp với địa phương được nghiên cứu. Do đó, để đánh giá và phân tích thực trạng liên kết vùng, từ đó đề xuất những hàm ý chính sách, giải pháp cho các vùng kinh tế - xã hội cũng như cho cả một quốc gia, đặc biệt là Việt Nam, cần phải có những nghiên cứu thực nghiệm chi tiết hơn trên phạm vi rộng hơn.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kiểm định Moran’s I để kiểm định sự tương quan không gian giữa các địa phương về các chỉ tiêu kinh tế. Hệ số Moran’s I được xác định:

Trong đó: là giá trị quan sát của đơn vị không gian thứ I; ̅ là giá trị trung bình của x; là số giá trị quan sát của các đơn vị không gian; là phần tử dòng i, cột j của ma trận trọng số không gian W đã được chuẩn hóa.

Hệ số Moran’s I nếu mang dấu dương nghĩa là các địa phương lân cận sẽ có mối tương quan không gian dương với nhau; ngược lại, mang dấu âm cho thấy kết quả tương quan không gian âm giữa các địa phương.

Đồng thời nghiên cứu áp dụng phương pháp hồi quy không gian như mô hình sai số không gian (SEM), mô hình tự hồi quy không gian (SAR), mô hình tự tương quan không gian (SAC), mô hình không gian ảnh hưởng ngẫu nhiên tổng quát (GSPRE) và mô hình Durbin không gian (SDM) để kiểm soát sự tương quan không gian này khi xét các mô hình hồi quy với số liệu kinh tế - xã hội các vùng đã thu thập được. Các kiểm định Hausman, kiểm định Likelihood Ratio (LR), tiêu chí Thông tin của Akaike (AIC) và tiêu chí Thông tin Bayes (BIC) để lựa chọn mô hình phù hợp nhất.

Dữ liệu và mô hình

Xuất phát từ mục tiêu của bài nghiên cứu và quá trình tổng hợp và xem xét các nghiên cứu thực nghiệm trước đó, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu như sau:


Chi tiết các biến trong mô hình nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1: Các biến trong mô hình đề xuất

Tên biến

Ký hiệu

Đo lường

Kỳ vọng dấu

Nghiên cứu thực nghiệm

Nguồn dữ liệu

Biến phụ thuộc

Tăng trưởng kinh tế

grdp

Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của vùng (%)

Faridi (2011); Lamba và cộng sự (2019); Pasichnyi và cộng sự (2019)

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

Biến giải thích

Liên kết vùng

morani

Hệ số Moral’ (I) của tăng trưởng kinh tế địa phương

+

Jin và cộng sự (2015), Bai và cộng sự (2012)

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

Phân cấp tài khóa

ed

Chi tiêu tài khóa của tỉnh tính theo bình quân đầu người của vùng chia cho chi tiêu tài khóa trung ương tính theo bình quân đầu người của cả nước.

+

Martinez-Vazquez và McNab (2006); Lamba và cộng sự (2019); Pasichnyi và cộng sự (2019)

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

Các biến kiểm soát

+ Quy mô đầu tư tư nhân

inv

Quy mô đầu tư tư nhân của vùng, chuyển sang dạng log

+

Faridi (2011); Lamba và cộng sự (2019); Pasichnyi và cộng sự (2019); Chukwu (2022)

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

+ Độ mở thương mại

open

Tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu của vùng, được chuyển sang dạng log

+

Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính

+ Chỉ số phát triển lực lượng lao động của tỉnh

labor

Thay đổi lực lượng lao động của vùng (%)

+

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài

fdi

Đầu tư trực tiếp nước ngoài của vùng, chuyển sang dạng log

+

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

+ Tỷ lệ lạm phát

cpi

Chỉ số lạm phát bình quân của vùng (%)

-

Cục Thống kê, Bộ Tài chính

Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu bao gồm 6 vùng kinh tế ở Việt Nam, giai đoạn 2009-2023. Dữ liệu của các chủ yếu được lấy từ các nguồn như: Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cơ quan Thống kê của các tỉnh/thành phố, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ Tài chính, Sở Tài chính các tỉnh.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm tra đa cộng tuyến

Nhằm bảo đảm tính phù hợp và độ tin cậy của mô hình nghiên cứu, nhóm tác giả đã tiến hành đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến thông qua việc tính toán chỉ số thừa số phóng đại phương sai (VIF) cho các biến độc lập. Về mặt lý thuyết, khi giá trị VIF của một biến lớn hơn 10, có thể xuất hiện nguy cơ đa cộng tuyến trong mô hình. Các kết quả kiểm định VIF đối với những biến giải thích được đưa vào phân tích được tổng hợp và trình bày chi tiết tại Bảng 2.

Bảng 2: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến

Biến

VIF

1/VIF

fdi

2,77

0,361011

inv

2,68

0,373134

open

1,92

0,520833

ed

1,87

0,533381

cpi

1,34

0,746885

labor

1,07

0,933737

morani

1,05

0,954405

VIF trung bình

1,81

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu

Bảng 2 cho thấy giá trị VIF của tất cả các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu đều < 10, thậm chí là < 5. Do đó, có thể khẳng định rằng mô hình nghiên cứu không gặp vấn đề đa cộng tuyến

Kết quả hồi quy

Nghiên cứu tiến hành hồi quy theo các mô hình không gian. Kết quả cho thấy, đối với mô hình SEM, hệ số lambda đều đạt ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong cả 2 trường hợp FE và RE, qua đó khẳng định tồn tại mối liên hệ không gian giữa các vùng. Kết quả kiểm định Hausman cho giá trị thống kê chi-bình phương bằng 42,75 và có ý nghĩa ở mức 1%, vì vậy mô hình tác động cố định được lựa chọn là phù hợp hơn.

Đối với mô hình SDM, kết quả cho thấy rho đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong cả 2 trường hợp mô hình RE và FE, qua đó khẳng định sự tồn tại của mối liên hệ không gian về tăng trưởng kinh tế giữa các vùng lân cận. Kết quả kiểm định Hausman cho thấy giá trị thống kê chi-bình phương đạt 92,8 và có ý nghĩa ở mức 1%, vì vậy mô hình SDM-FE là phù hợp hơn.

Kết quả hồi quy mô hình SAR cho thấy, rho đều có ý nghĩa thống kê trong cả 2 trường hợp FE và FE, qua đó khẳng định sự tồn tại của mối liên kết không gian giữa các vùng. Điều này khẳng định có sự tương quan về tăng trưởng kinh tế giữa các vùng tại Việt Nam. Kết quả kiểm định Hausman có ý nghĩa ở mức 1%, vì vậy mô hình SAR-FE được lựa chọn để xem xét.

Để lựa chọn mô hình phù hợp trong 3 mô hình này, nghiên cứu sử dụng kiểm định LR. Đối với cặp mô hình SAR và SDM, giá trị chi-bình phương đạt ý nghĩa thống kê ở mức 1%, vì vậy mô hình SDM-FE được lựa chọn. Ngược lại, trong trường hợp so sánh giữa mô hình SEM và SDM, giá trị chi-bình phương không đạt ý nghĩa thống kê, do đó mô hình SEM-FE được ưu tiên sử dụng. Tiếp theo, nghiên cứu dựa trên các tiêu chí thông tin AIC và BIC để chọn giữa SEM-FE và 2 mô hình còn lại là SAC và GSPRE. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình SEM với tác động cố định là lựa chọn tối ưu để phân tích kết quả, do cả 2 chỉ tiêu AIC và BIC của mô hình này đều thấp hơn so với các mô hình còn lại.

Thảo luận

Từ những phân tích trên cho thấy mức độ liên kết vùng có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế vùng trong giai đoạn 2009-2023. Ước lượng từ mô hình SEM-FE cho thấy hệ số tác động của liên kết vùng đạt 0,00269 ở mức ý nghĩa 5%, khẳng định vai trò quan trọng của liên kết vùng trong thúc đẩy tăng trưởng. Thông qua việc tăng cường phối hợp giữa các địa phương, liên kết vùng giúp khai thác hiệu quả lợi thế so sánh, hình thành phân công lao động hợp lý và hạn chế trùng lặp trong đầu tư, sản xuất. Đồng thời, sự phối hợp trong quy hoạch hạ tầng, logistics và phát triển ngành giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế vùng. Ngoài ra, liên kết vùng còn mở rộng quy mô thị trường, thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa, vốn, lao động và công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực đa dạng hơn. Kết quả này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu và đồng nhất với các nghiên cứu của Jin và cộng sự (2015) và Bai và cộng sự (2012).

Bên cạnh đó, phân cấp tài khóa được xác định là một trong những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng, phù hợp với các nghiên cứu của Martinez-Vazquez và McNab (2006), Faridi (2011), Lamba và cộng sự (2019). Khi chính quyền địa phương được trao quyền tự chủ lớn hơn trong quyết định thu - chi ngân sách, các chính sách tài khóa có điều kiện bám sát hơn nhu cầu thực tiễn và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng vùng. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực công, đặc biệt trong đầu tư hạ tầng và các dịch vụ công thiết yếu. Phân cấp tài khóa cũng tạo động lực cho các địa phương chủ động khai thác nguồn thu, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao chất lượng quản trị, từ đó gia tăng năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế vùng.

Ngược lại, nghiên cứu cho thấy quy mô đầu tư tư nhân có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế vùng, trái với kỳ vọng ban đầu. Điều này cho thấy trong một số bối cảnh, sự gia tăng đầu tư tư nhân nếu thiếu định hướng và điều phối hiệu quả có thể làm giảm hiệu quả tăng trưởng. Cụ thể, đầu tư tư nhân tập trung vào các lĩnh vực ngắn hạn hoặc mang tính đầu cơ có thể làm lệch hướng phân bổ nguồn lực khỏi các ngành sản xuất và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, đầu tư tư nhân gia tăng nhanh có thể gây áp lực lên hạ tầng và môi trường, làm tăng chi phí sản xuất và suy yếu lợi thế cạnh tranh của vùng. Do đó, vai trò của đầu tư tư nhân chỉ được phát huy khi gắn với định hướng phát triển phù hợp và năng lực quản trị vùng hiệu quả.

Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế vùng. FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần chuyển giao công nghệ, nâng cao kỹ năng lao động và tạo hiệu ứng lan tỏa thông qua liên kết chuỗi giá trị. Đồng thời, sự hiện diện của doanh nghiệp FDI thúc đẩy cạnh tranh, khuyến khích doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ và cải thiện quản trị, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Cuối cùng, lạm phát (CPI) được xác định là yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế vùng. Lạm phát cao làm suy giảm sức mua, gia tăng chi phí sản xuất và tạo bất ổn kinh tế vĩ mô, từ đó làm giảm đầu tư và tổng cầu. Ngoài ra, các chính sách kiểm soát lạm phát có thể hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và chi tiêu cho phát triển. Kết quả này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu và nghiên cứu của Pasichnyi và cộng sự (2019).

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết luận

Áp dụng các mô hình hồi quy không gian, nghiên cứu này đã làm rõ tác động của liên kết vùng đến tăng trưởng kinh tế vùng tại 6 vùng kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 2009-2023. Các kiểm định Hausman, kiểm định Likelihood Ratio và các tiêu chí AIC và BIC cho thấy mô hình sai số không gian với tác động cố định (SEM-FE) là phù hợp nhất với dữ liệu thu thập được. Kết quả hồi quy cho thấy mức độ liên kết vùng đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các vùng kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Hàm ý chính sách

Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng Việt Nam cần có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy mức độ liên kết vùng, tạo động lực tài chính nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, phân cấp tài khóa và dòng vốn FDI cũng là những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền tài chính - ngân sách theo hướng gắn quyền hạn với trách nhiệm và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong bối cảnh thúc đẩy liên kết vùng, phân cấp tài chính không nên chỉ dừng lại ở việc trao quyền cho từng địa phương riêng lẻ, mà cần tạo điều kiện để các địa phương trong cùng một vùng có thể phối hợp, đồng tài trợ và cùng chịu trách nhiệm đối với các nhiệm vụ phát triển chung.

Tài liệu tham khảo:

1. Bai, C.-E., Ma, H., & Pan, W. (2012). Spatial spillover and regional economic growth in China. China Economic Review, 23(4), 982-990.

2. Banaszewska, M., Bischoff, I., Bode, E., & Chodakowska, A. (2022). Does inter-municipal cooperation help improve local economic performance?-Evidence from Poland. Regional Science and Urban Economics, 92, 103748.

3. Choe, S. C. (2011). Introduction: reshaping regional policy in Korea. In Reshaping regional policy. Edward Elgar Publishing.

4. Faridi, M. Z. (2011). Contribution of Fiscal Decentralization to Economic Growth: Evidence from Pakistan. Pakistan Journal of Social Sciences (PJSS), 31(1).

5. Im, E. (2015). The effects of interlocal collaboration on local economic performance: investigation of Korean cases. Doctoral dissertation, University of Southern California.

6. Jin, R. (2015). Spatial Correlation Analysis of 2013 Per capita GDP in the Area of Beijing, Tianjin and Hebei. American Journal of Theoretical and Applied Statistics, 4(4), 312.

7. Lamba, A., Cassey, P., Segaran, R. R., & Koh, L. P. (2019). Deep learning for environmental conservation. Current Biology, 29(19), R977-R982.

8. Li, H., Hu, T., Ma, X., & Cheng, B. (2025). The impact of transportation infrastructure on the regional economic integration in China: A CGE analysis. International Review of Economics & Finance, 99, 104045.

9. Ling, Z., & Jiang, W. U. (2013). Intergovernmental cooperation in Cheng-Yu economic zone: a case study on Chinese regional collaboration under synergy governance. Canadian Social Science, 9(3), 15.

10. Martinez-Vazquez, J., & McNab, R. M. (2006). Fiscal decentralization, macrostability and growth.

11. Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Nữ Minh Quyên (2022). Liên kết vùng ở một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương, 27(2), 43-51.

12. Nguyễn Thị Như Mai (2022). Liên kết vùng và phát triển bền vững kinh tế vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển, 1-13. Nguyễn Văn Huân (2012). Liên kết vùng từ lỳ luận đến thực tiễn. Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa thu, 418-443.

14. Olberding, J. C. (2009). Toward evaluating the effectiveness of regional partnerships for economic development in US metropolitan areas. Intl Journal of Public Administration, 32(5), 393-414.

15. Pasichnyi, M., Kaneva, T., Ruban, M., & Nepytaliuk, A. (2019). The impact of fiscal decentralization on economic development. Investment Management & Financial Innovations, 16(3), 29.

16. Phạm Quốc Thành (2017). Vấn đề phát triển liên kết vùng với phát triển bền vững vùng Tây Bắc. VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, 33(4).

17. Pomerlyan, E., & Belitski, M. (2024). Regional integration and economic performance: evidence from the Eurasian Economic Union. Eurasian Geography and Economics, 65(5), 627-655.

18. Trần Thị Thu Hương, Lê Viết Thái (2015). Liên kết vùng và định hướng liên kết vùng trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam. Tạp Chí Nghiên Cứu Kinh Tế, 450(11).

19. Vũ Quỳnh Nam (2023). Giải pháp thúc đẩy liên kết vùng tại khu vực Trung du Miền núi Bắc Bộ. Nxb Đà Nẵng.

20. Wu, X., & Hui, X. (2021). Economic dependence relationship and the coordinated & sustainable development among the provinces in the Yellow River economic belt of China. Sustainability, 13(10), 5448.

Ngày nhận bài: 18/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/1/2026; Ngày duyệt đăng: 23/1/2026

Các tin khác

Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2025 và hàm ý chính sách

Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2006-2025 và hàm ý chính sách

Năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nền kinh tế trong việc tạo lập và duy trì môi trường thuận lợi cho tăng trưởng năng suất dài hạn, qua đó nâng cao mức sống của người dân. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, việc đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh là cơ sở cho hoạch định chiến lược phát triển.
Năng lực động xanh và lợi thế cạnh tranh: Vai trò trung gian của đổi mới xanh và hiệu quả bền vững

Năng lực động xanh và lợi thế cạnh tranh: Vai trò trung gian của đổi mới xanh và hiệu quả bền vững

Nghiên cứu làm rõ cơ chế chuyển hóa từ Năng lực động xanh (GDC) đến Lợi thế cạnh tranh (CA) thông qua Đổi mới sản phẩm xanh (GPI), Đổi mới quy trình xanh (GPrI) và Hiệu quả hoạt động bền vững (SP) tại 324 doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Kết quả cho thấy GDC liên hệ tích cực với cả GPI và GPrI, trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bền vững cho doanh nghiệp.
Tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam

Tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đến kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đến kim ngạch xuất khẩu của các tỉnh, thành phố tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024. Kết quả cho thấy các địa phương cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh gắn với các chính sách hỗ trợ trực tiếp hoạt động xuất khẩu.
Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Số hóa hoạt động giáo dục đang làm thay đổi không chỉ phương thức dạy và học mà cả cách thức dịch vụ giáo dục được đưa ra thị trường. Sản phẩm công nghệ thông minh, tính năng đa dạng do đó việc tiếp cận dịch vụ vì thế được mở rộng đáng kể
Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Với dân số khổng lồ và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định (trung bình 4-6%/năm), thị trường Nam Á, đang nổi lên như một thị trường nhiều tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
Chuyển đổi kép trong các nhà máy sản xuất Việt Nam: Ứng dụng tự động hóa và số hóa hướng tới mục tiêu Net Zero

Chuyển đổi kép trong các nhà máy sản xuất Việt Nam: Ứng dụng tự động hóa và số hóa hướng tới mục tiêu Net Zero

Chuyển đổi kép đang trở thành hướng tiếp cận quan trọng giúp nhà máy sản xuất tại Việt Nam tối ưu tài nguyên, năng lượng và minh bạch hóa phát thải hướng tới Net Zero. Nghiên cứu tập trung phân tích mô hình chuyển đổi kép dựa trên hệ thống tự động hóa hiện đại, qua đó đề xuất lộ trình triển khai phù hợp cho doanh nghiệp sản xuất.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Trong sự vận động của kinh tế vĩ mô, thu ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là nguồn lực tài chính cho chi tiêu công, mà còn là một "phong vũ biểu" nhạy cảm, phản ánh trực tiếp sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả của các chính sách điều hành tài khóa.
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương 
ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và định hướng từ Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị, việc chuyển hướng sang FDI thế hệ mới - gắn liền với công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuẩn mực ESG - là lựa chọn mang tính chiến lược.
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota

Đối với Việt Nam, vấn đề này mang tính thời sự rõ rệt. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ công của Việt Nam tăng nhanh từ 53,8% GDP năm 2007 lên 62,6% GDP năm 2017, tiệm cận ngưỡng trần 65% GDP được quy định trong Chiến lược nợ công.
Tác động của môi trường VUCA đến hiệu quả xuất khẩu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Tác động của môi trường VUCA đến hiệu quả xuất khẩu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Nền kinh tế thế giới đang đối mặt với chuỗi khủng hoảng đa chiều và đã kích hoạt môi trường VUCA (biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ). Điều này bắt buộc chuỗi giá trị toàn cầu phải tái cơ cấu để ưu tiên sự thích ứng và ổn định.