Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại của khách du lịch MICE tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
ThS. Võ Nguyễn Quang Nhật
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh
Email: vnqnhat@gmail.com
Tóm tắt
Nghiên cứu xác định các yếu tố điểm đến ảnh hưởng đến ý định quay trở lại của khách du lịch hội nghị (MICE) tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Khảo sát 200 du khách nội địa bằng thang đo Likert 5 mức được phân tích bằng Cronbach’s Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy, Hình ảnh điểm đến, Môi trường tự nhiên, Giá cả, Cơ sở hạ tầng, Ẩm thực và Con người địa phương đều tác động tích cực, có ý nghĩa đến Ý định quay trở lại. Trong đó, Cơ sở hạ tầng và Ẩm thực có ảnh hưởng mạnh nhất. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng du lịch MICE và thúc đẩy phát triển bền vững tại Đà Lạt.
Từ khóa: Du lịch MICE, điểm đến Đà Lạt, ý định quay trở lại, yếu tố điểm đến
Abstract
This study identifies destination factors affecting the revisit intention of MICE tourists in Da Lat, Lam Dong Province. A survey of 200 domestic tourists was analyzed using Cronbach’s Alpha, Exploratory Factor Analysis (EFA), and multiple linear regression. The results show that destination image, natural environment, price, infrastructure, cuisine, and local people all have positive and significant impacts on revisit intention. Among these factors, infrastructure and cuisine exert the strongest influence. Based on these findings, the study proposes managerial implications to enhance the quality of MICE tourism and promote sustainable tourism development in Da Lat.
Keywords: MICE tourism, Da Lat destination, revisit intention, destination factors
ĐẶT VẤN ĐỀ
Du lịch là ngành dịch vụ có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu hút đầu tư và thúc đẩy sự liên kết giữa nhiều lĩnh vực như lưu trú, vận tải, ẩm thực, thương mại và tổ chức sự kiện. Trong xu hướng phát triển kinh tế theo hướng dịch vụ, du lịch luôn được xem là động lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của các địa phương.
Những năm gần đây, với sự gia tăng của nhu cầu du lịch trải nghiệm và kết hợp các hoạt động hội họp, khen thưởng, hội nghị và triển lãm (MICE) ngày càng khẳng định được vị thế trong chiến lược phát triển du lịch. Đây là phân khúc có mức chi tiêu cao, thời gian lưu trú dài và khả năng lan tỏa đến nhiều ngành dịch vụ liên quan. Tại Việt Nam, MICE được đánh giá là phân khúc giàu tiềm năng, góp phần quảng bá hình ảnh điểm đến và thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng chất lượng cao.
Đà Lạt là điểm đến có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch MICE nhờ khí hậu ôn hòa, cảnh quan đẹp, không gian nghỉ dưỡng riêng biệt và bản sắc văn hóa địa phương hấp dẫn. Theo PV (2025), năm 2024, Lâm Đồng đón khoảng 10 triệu lượt khách, trong đó khách nội địa đạt 9,4 triệu lượt, doanh thu du lịch ước tính đạt khoảng 18.000 tỷ đồng. Những kết quả này cho thấy sức hút của điểm đến và mở ra tiềm năng phát triển đối với các sản phẩm du lịch. Trong bối cảnh đó, Đà Lạt đang triển khai định hướng phát triển du lịch chất lượng cao gắn với mở rộng không gian du lịch, phát triển các loại hình du lịch đặc trưng và nâng cao chất lượng hạ tầng, dịch vụ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2022).
Anh Nguyet (2026) cho biết, tại cuộc họp về phát triển du lịch của tỉnh, nhiều doanh nghiệp đã đề xuất cơ chế hỗ trợ các đoàn khách lớn, đặc biệt là phân khúc MICE, do đây là nhóm khách có mức chi tiêu cao và đòi hỏi lớn về hạ tầng, dịch vụ cũng như khả năng tổ chức. Nghiên cứu của Nguyen Thang Quyet và Bui Thi Phuoc (2025) tại Đà Lạt cũng cho thấy ý định quay lại của du khách chịu tác động trực tiếp bởi sự hài lòng, giá cả, sản phẩm du lịch và giá trị cảm xúc. Từ đó có thể thấy rằng, nếu các điều kiện điểm đến và trải nghiệm MICE tiếp tục được cải thiện, khả năng quay trở lại của du khách tại Đà Lạt là khá tích cực.
Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào khách du lịch nói chung, trong khi bằng chứng thực nghiệm chuyên biệt đối với khách du lịch MICE vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại của khách du lịch MICE tại TP. Đà Lạt là cần thiết, vừa góp phần bổ sung khoảng trống nghiên cứu, vừa có giá trị thực tiễn cho hoạch định chính sách và nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Theo UNWTO (2019), khách du lịch là những người di chuyển ra ngoài môi trường sống thường xuyên vì mục đích cá nhân hoặc công việc/nghề nghiệp.
Du lịch MICE được xem là loại hình kết hợp giữa du lịch với các hoạt động hội họp, khen thưởng, hội nghị và triển lãm. So với du lịch nghỉ dưỡng thông thường, MICE đòi hỏi mức độ đồng bộ cao hơn về cơ sở hạ tầng, chất lượng dịch vụ và khả năng phối hợp giữa các thành phần tại điểm đến. Do đó, trong bối cảnh này, điểm đến không chỉ là nơi tham quan mà còn là một hệ sinh thái cung ứng trải nghiệm tổng hợp cho du khách (Higgins-Desbiolles và cộng sự, 2022; Bellato và cộng sự, 2022). Trong nghiên cứu này, khách du lịch được hiểu là những người tham gia chương trình MICE tại TP. Đà Lạt ngoài nơi cư trú thường xuyên.
Điểm đến du lịch ngày nay không chỉ được xem là một không gian địa lý cố định, mà còn là một mạng lưới các địa điểm, dòng di chuyển, dịch vụ và tương tác trải nghiệm được hình thành trong quá trình du khách di chuyển và sử dụng các nguồn lực tại nơi đến (Reinhold và cộng sự, 2023).
Theo Abbasi và cộng sự (2021), ý định quay trở lại là khuynh hướng của du khách tiếp tục lựa chọn lại một điểm đến trong tương lai. Đồng thời, Wang và Li (2023) cho rằng trong nghiên cứu du lịch, ý định quay lại thường được xem là một biểu hiện của lòng trung thành điểm đến và là chỉ báo quan trọng đối với khả năng giữ chân du khách.
Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay lại, như sự hài lòng, hình ảnh điểm đến, động lực du lịch và kinh nghiệm ghé thăm trước đó (Alegre và Cladera, 2009; Thiumsak và Ruangkanjanases, 2016).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Trần Đăng Khoa và cộng sự (2023), Nguyễn Tiến Thành và Lê Văn Huy (2021), Nguyễn Phương Tường Lan và Nguyễn Văn Thích (2021b) cũng cho thấy, các yếu tố như hình ảnh điểm đến, môi trường, cơ sở hạ tầng, giá cả, ẩm thực và con người địa phương có tác động tích cực đến ý định quay lại của du khách.
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, kết hợp với mục tiêu nghiên cứu, bối cảnh du lịch MICE tại TP. Đà Lạt và kết quả thảo luận chuyên gia, nghiên cứu này lựa chọn 6 yếu tố gồm: Hình ảnh điểm đến, Môi trường tự nhiên, Giá cả, Cơ sở hạ tầng, Ẩm thực và Con người địa phương để xây dựng mô hình nghiên cứu. Đây là những yếu tố có cơ sở lý luận và phù hợp với đặc trưng của điểm đến Đà Lạt cũng như đặc thù của du khách MICE.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Các giả thuyết nghiên cứu được phát triển gồm:
H1: Hình ảnh điểm đến có ảnh hưởng tích cực đến Ý định quay trở lại.
H2: Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng tích cực đến Ý định quay trở lại.
H3: Giá cả có ảnh hưởng tích cực đến Ý định quay trở lại.
H4: Cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tích cực đến Ý định quay trở lại.
H5: Ẩm thực có ảnh hưởng tích cực đến Ý định quay trở lại.
H6: Con người địa phương có ảnh hưởng tích cực đến Ý định quay trở lại.
PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Ở giai đoạn định tính, tác giả thảo luận với 3 chuyên gia/nhà quản lý trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ nhằm rà soát tính phù hợp về ngữ nghĩa, bối cảnh và khả năng quan sát của các biến trong mô hình nghiên cứu đối với du lịch MICE tại Đà Lạt. Nghiên cứu định lượng được triển khai từ tháng 2-4/2025 tại TP. Đà Lạt bằng bảng hỏi cấu trúc sử dụng thang Likert 5 mức. Đối tượng khảo sát là khách du lịch nội địa đã hoặc đang tham gia chương trình du lịch MICE tại Đà Lạt, để hạn chế nhầm lẫn với khách du lịch thông thường, chỉ những người có chuyến đi gắn với ít nhất một hoạt động thuộc loại hình MICE và xác nhận tham gia chương trình do cơ quan, doanh nghiệp hoặc tổ chức thực hiện mới được đưa vào mẫu.
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện. Với 26 biến quan sát, cỡ mẫu 200 đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho các phân tích độ tin cậy, EFA và hồi quy bội; đồng thời bảo đảm tỷ lệ quan sát trên biến đo lường ở mức chấp nhận được. Nghiên cứu phát ra 280 bảng hỏi, thu về 208 phiếu; sau khi loại 8 phiếu không hợp lệ, còn 200 phiếu hợp lệ được sử dụng cho phân tích bằng SPSS 22 với các kỹ thuật Cronbach’s Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính bội.
Về đặc điểm mẫu khảo sát, nam chiếm 60,5% và nữ chiếm 39,5%. Nhóm tuổi từ 25 đến 35 chiếm tỷ trọng cao nhất (40,5%), tiếp theo là nhóm 35 đến 45 tuổi (30%). Xét theo thu nhập, nhóm từ 10 đến 20 triệu đồng/tháng chiếm tỷ lệ lớn nhất (44,5%). Về nghề nghiệp, nhóm kinh doanh tự do chiếm 43%, tiếp theo là chuyên viên/nhân viên văn phòng với 28%. Xét theo loại hình chương trình MICE tham gia, hội họp chiếm tỷ lệ cao nhất với 46%, tiếp theo là hội nghị (41%), triển lãm (7%) và khen thưởng (6%)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha được trình bày ở Bảng 1 cho thấy, các thang đo trong mô hình nghiên cứu nhìn chung đạt ngưỡng chấp nhận để tiếp tục phân tích. Cụ thể, hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo dao động từ 0,601 đến 0,930; trong đó, phần lớn thang đo đạt mức độ tin cậy khá tốt. Riêng thang đo Con người địa phương có hệ số Cronbach’s Alpha = 0,601, phản ánh mức độ tin cậy chấp nhận tối thiểu trong bối cảnh nghiên cứu mang tính khám phá. Tuy nhiên, các biến quan sát của thang đo này vẫn có hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh lớn hơn 0,3, nên thang đo được giữ lại để tiếp tục phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy ở các bước tiếp theo.
Bảng 1: Kiểm định độ tin cậy thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha
| STT | Biến quan sát | Trung bình thang đo nếu loại biến | Phương sai thang đo loại biến | Tương quan biến - tổng | Cronbach’s Alpha nếu loại biến này |
|---|---|---|---|---|---|
| (1) Thang đo Hình ảnh điểm đến (HA) - Cronbach’s Alpha: 0,730 | |||||
| 1 | HA1 | 17,87 | 3,695 | 0,451 | 0,699 |
| 2 | HA2 | 17,99 | 3,271 | 0,518 | 0,673 |
| 3 | HA3 | 18,13 | 3,638 | 0,436 | 0,704 |
| 4 | HA4 | 17,86 | 3,186 | 0,600 | 0,639 |
| 5 | HA5 | 18,01 | 3,472 | 0,452 | 0,699 |
| (2) Thang đo Môi trường tự nhiên (MT) - Cronbach’s Alpha: 0,783 | |||||
| 6 | MT1 | 12,04 | 2,758 | 0,581 | 0,738 |
| 7 | MT2 | 12,14 | 2,489 | 0,621 | 0,714 |
| 8 | MT3 | 12,08 | 2,526 | 0,564 | 0,743 |
| 9 | MT4 | 12,23 | 2,228 | 0,609 | 0,724 |
| (3) Thang đo Giá cả (GC) - Cronbach’s Alpha: 0,790 | |||||
| 10 | GC1 | 8,66 | 1,792 | 0,668 | 0,675 |
| 11 | GC2 | 8,76 | 2,073 | 0,639 | 0,709 |
| 12 | GC3 | 8,68 | 2,046 | 0,592 | 0,756 |
| (4) Thang đo Cơ sở hạ tầng (CS) - Cronbach’s Alpha: 0,930 | |||||
| 13 | CS1 | 11,01 | 9,296 | 0,822 | 0,915 |
| 14 | CS2 | 11,07 | 8,578 | 0,852 | 0,904 |
| 15 | CS3 | 11,13 | 8,586 | 0,864 | 0,900 |
| 16 | CS4 | 11,15 | 8,939 | 0,811 | 0,917 |
| (5) Thang đo Ẩm thực (AT) - Cronbach’s Alpha: 0,843 | |||||
| 17 | AT1 | 11,83 | 3,622 | 0,693 | 0,793 |
| 18 | AT2 | 11,87 | 3,746 | 0,648 | 0,813 |
| 19 | AT3 | 11,86 | 3,662 | 0,705 | 0,789 |
| 20 | AT4 | 12,02 | 3,497 | 0,667 | 0,806 |
| (6) Thang đo Con người địa phương (CN) - Cronbach’s Alpha: 0,601 | |||||
| 21 | CN1 | 8,58 | 0,968 | 0,548 | 0,325 |
| 22 | CN2 | 8,49 | 0,935 | 0,394 | 0,526 |
| 23 | CN3 | 8,40 | 1,014 | 0,314 | 0,645 |
| (7) Thang đo Ý định quay trở lại (YD) - Cronbach’s Alpha: 0,798 | |||||
| 24 | YD1 | 7,70 | 0,927 | 0,605 | 0,768 |
| 25 | YD2 | 7,94 | 1,026 | 0,698 | 0,684 |
| 26 | YD3 | 7,90 | 0,894 | 0,642 | 0,728 |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ kết quả xử lý dữ liệu
Đối với thang đo Con người địa phương, biến CN3 có hệ số tương quan biến - tổng hiệu chỉnh đạt 0,314, tức vẫn vượt ngưỡng tối thiểu 0,3. Nếu loại biến này thì hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo tăng từ 0,601 lên 0,645, mức cải thiện không lớn. Đồng thời, xét về nội dung, biến CN3 vẫn phản ánh một khía cạnh của cảm nhận du khách đối với con người địa phương trong trải nghiệm điểm đến. Vì vậy, nghiên cứu quyết định giữ lại CN3 nhằm bảo đảm tính đại diện nội dung của thang đo, đồng thời thừa nhận rằng thang đo này cần tiếp tục được hoàn thiện trong các nghiên cứu tiếp theo.
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập (Bảng 2) cho thấy hệ số KMO = 0,760 (>0,5) và kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000, chứng tỏ dữ liệu phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố. Kết quả EFA trích được 6 nhân tố tại Eigenvalue > 1 và tổng phương sai trích đạt 67,934%, cho thấy mô hình đạt yêu cầu về khả năng giải thích dữ liệu.
Bên cạnh đó, hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều lớn hơn 0,5 (Bảng 3) nên toàn bộ 23 biến quan sát được giữ lại. Dựa trên kết quả ma trận xoay, các biến được nhóm thành 6 nhân tố, phù hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất.
Bảng 2: Kiểm định KMO và Bartlett đối với các yếu tố ảnh hưởng
| Kaiser-Meyer-Olkin của mẫu thích hợp | 0,760 | |
| Kiểm định sự thích hợp của Bartlett's | Giá trị chi bình phương tính toán | 2.487,395 |
| Bậc tự do | 253 | |
| Giá trị Sig. | 0,000 | |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ kết quả xử lý dữ liệu
Bảng 3: Kết quả phân tích nhân tố khám phá đối với các yếu tố ảnh hưởng
|
| Nhân tố | |||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | |
| CS3 | 0,878 |
|
|
|
|
|
| CS2 | 0,872 |
|
|
|
|
|
| CS4 | 0,833 |
|
|
|
|
|
| CS1 | 0,832 |
|
|
|
|
|
| AT1 |
| 0,755 |
|
|
|
|
| AT4 |
| 0,740 |
|
|
|
|
| AT3 |
| 0,715 |
|
|
|
|
| AT2 |
| 0,689 |
|
|
|
|
| MT1 |
|
| 0,815 |
|
|
|
| MT2 |
|
| 0,742 |
|
|
|
| MT3 |
|
| 0,664 |
|
|
|
| MT4 |
|
| 0,645 |
|
|
|
| HA4 |
|
|
| 0,738 |
|
|
| HA3 |
|
|
| 0,699 |
|
|
| HA1 |
|
|
| 0,638 |
|
|
| HA2 |
|
|
| 0,596 |
|
|
| HA5 |
|
|
| 0,565 |
|
|
| GC2 |
|
|
|
| 0,849 |
|
| GC1 |
|
|
|
| 0,800 |
|
| GC3 |
|
|
|
| 0,799 |
|
| CN3 |
|
|
|
|
| 0,711 |
| CN1 |
|
|
|
|
| 0,663 |
| CN2 |
|
|
|
|
| 0,609 |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ kết quả xử lý dữ liệu
Kết quả hồi quy
Mô hình nghiên cứu sau EFA sử dụng Ý định quay lại của du khách (YD) làm biến phụ thuộc, được đo lường bằng 3 biến quan sát; các biến độc lập được đại diện bằng giá trị trung bình của từng nhân tố. Kết quả tương quan Pearson cho thấy YD có tương quan thuận với tất cả biến độc lập và đều có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000). Đồng thời, hệ số tương quan giữa các biến đều nhỏ hơn 0,85, cho thấy thang đo đạt giá trị phân biệt và đủ điều kiện thực hiện hồi quy bội.
Kết quả hồi quy cho thấy cả 6 nhân tố đều tác động cùng chiều đến Ý định quay lại ở mức ý nghĩa 5%, với phương trình chuẩn hóa:
YD = 0,106HA + 0,129MT + 0,161GC + 0,412CS + 0,295AT + 0,096CN + ε
Trong đó, Cơ sở hạ tầng tác động mạnh nhất, tiếp theo là Ẩm thực, Giá cả, Môi trường tự nhiên, Hình ảnh điểm đến và Con người địa phương.
Bảng 4: Kết quả hồi quy
| Model | Hệ số không chuẩn hoá | Hệ số chuẩn hoá | t | Sig. | Thống kê cộng gộp | |||
| B | Std. Error | Beta | Tolerance | VIF | ||||
| 1 | (Constant) | 0,449 | 0,232 |
| 1,937 | 0,054 |
|
|
| HA | 0,110 | 0,047 | 0,106 | 2,319 | 0,021 | 0,750 | 1,333 | |
| MT | 0,118 | 0,043 | 0,129 | 2,752 | 0,006 | 0,715 | 1,398 | |
| GC | 0,112 | 0,029 | 0,161 | 3,828 | 0,000 | 0,885 | 1,130 | |
| CS | 0,195 | 0,024 | 0,412 | 8,054 | 0,000 | 0,599 | 1,668 | |
| AT | 0,221 | 0,039 | 0,295 | 5,636 | 0,000 | 0,572 | 1,749 | |
| CN | 0,099 | 0,048 | 0,096 | 2,057 | 0,041 | 0,725 | 1,379 | |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ kết quả xử lý dữ liệu
Thảo luận kết quả
Kết quả hồi quy cho thấy Cơ sở hạ tầng và Ẩm thực là 2 nhân tố tác động mạnh nhất đến Ý định quay trở lại của du khách MICE tại Đà Lạt. Kết quả này phù hợp với đặc thù của du lịch MICE, khi chất lượng hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất phục vụ sự kiện, lưu trú và hội họp có vai trò quan trọng đối với trải nghiệm của du khách. Đồng thời, Ẩm thực địa phương góp phần gia tăng trải nghiệm văn hóa và nâng cao mức độ hài lòng tổng thể.
Bên cạnh đó, yếu tố Con người địa phương cũng có tác động cùng chiều đến Ý định quay trở lại của du khách. Tuy nhiên, kết quả này cần được diễn giải thận trọng hơn so với các nhân tố còn lại, vì thang đo này chỉ đạt mức độ tin cậy chấp nhận tối thiểu. Điều này cho thấy cảm nhận của du khách MICE đối với con người địa phương có thể là một khái niệm phức hợp, cần được đo lường đầy đủ thông qua nhiều biến quan sát hơn trong các nghiên cứu tiếp theo.
So với các nghiên cứu trước, kết quả này vừa mang tính kế thừa vừa cho thấy sự khác biệt theo bối cảnh. Tương tự các nghiên cứu tại Bình Quới, Vũng Tàu và Bà Rịa - Vũng Tàu (trước đây), các yếu tố như Môi trường tự nhiên, Hình ảnh điểm đến và Cơ sở hạ tầng đều có tác động tích cực đến Ý định quay lại. Tuy nhiên, nếu ở Bình Quới, giá cả là yếu tố nổi bật; hoặc tại Bà Rịa - Vũng Tàu, môi trường giữ vai trò dẫn đầu, thì trong bối cảnh MICE tại Đà Lạt, cơ sở hạ tầng lại có ảnh hưởng mạnh hơn. Điều này cho thấy du khách MICE ít nhạy cảm hơn với giá cả nhưng đòi hỏi cao hơn về chất lượng hạ tầng và dịch vụ chuyên biệt.
Bên cạnh đó, sức hấp dẫn của Đà Lạt còn đến từ khí hậu ôn hòa, cảnh quan sinh thái và không gian nghỉ dưỡng đặc trưng. Những yếu tố này góp phần củng cố hình ảnh điểm đến, tạo môi trường phù hợp cho các chương trình MICE kết hợp làm việc và nghỉ dưỡng, từ đó nâng cao khả năng thu hút du khách quay trở lại.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định quay trở lại của du khách nội địa đối với du lịch MICE tại TP. Đà Lạt. Trên cơ sở kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, mô hình nghiên cứu được kiểm định bằng Cronbach’s Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy, 6 nhân tố đều tác động cùng chiều đến ý định quay lại của du khách, gồm: Cơ sở hạ tầng, Ẩm thực, Giá cả, Môi trường tự nhiên, Hình ảnh điểm đến và Con người địa phương.
Trong đó, Cơ sở hạ tầng là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là Ẩm thực, Giá cả, Môi trường tự nhiên, Hình ảnh điểm đến và Con người địa phương. Đáng chú ý, mặc dù Cơ sở hạ tầng có tác động lớn nhất, đây lại là nhóm yếu tố có mức đánh giá trung bình thấp nhất, cho thấy cần được ưu tiên cải thiện để nâng cao khả năng giữ chân khách MICE.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị theo hướng ưu tiên những yếu tố có khả năng tạo tác động thực chất đến quyết định quay lại của du khách:
Trước hết, đối với nhân tố Cơ sở hạ tầng, cần xem đây là nền tảng cạnh tranh cốt lõi của du lịch MICE tại Đà Lạt cho nên việc đầu tư không chỉ dừng ở nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị mà cần hướng đến tính đồng bộ, tiện nghi và chuyên nghiệp trong toàn bộ trải nghiệm phục vụ.
Đối với Ẩm thực, cần khai thác yếu tố này như một lợi thế khác biệt của điểm đến, theo hướng vừa giữ được bản sắc địa phương, vừa chuẩn hóa chất lượng dịch vụ để nâng cao giá trị cảm nhận của du khách.
Đối với nhân tố Giá cả, vấn đề trọng tâm không nằm ở mức giá cao hay thấp, mà nằm ở cảm nhận hợp lý, minh bạch và tương xứng với chất lượng dịch vụ nhận được.
Đối với nhân tố Môi trường tự nhiên, cần xem đây là tài sản chiến lược của Đà Lạt, từ đó có định hướng bảo tồn cảnh quan, khí hậu và không gian xanh như một thế mạnh để duy trì được sức hấp dẫn lâu dài của Đà Lạt.
Đối với nhân tố Hình ảnh điểm đến, cần xây dựng và truyền thông Đà Lạt như một điểm đến MICE không chỉ thuận lợi cho tổ chức sự kiện mà còn mang lại trải nghiệm thư giãn, thân thiện và mang lại sự khác biệt so với các trung tâm du lịch MICE khác.
Cuối cùng, đối với nhân tố Con người địa phương, cần phát huy hơn nữa hình ảnh cộng đồng dân cư văn minh, hiếu khách và sẵn sàng hỗ trợ, bởi đây là yếu tố góp phần tạo nên ấn tượng cảm xúc tích cực và củng cố ý định quay lại của du khách trong tương lai.
Bên cạnh những kết quả đạt được, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện đối với khách du lịch MICE nội địa tại Đà Lạt, do đó khả năng khái quát hóa kết quả còn nhất định. Thứ hai, mô hình nghiên cứu mới tập trung vào nhóm yếu tố thuộc điểm đến, trong khi ý định quay lại của khách MICE còn có thể chịu tác động bởi các yếu tố đặc thù khác như chất lượng tổ chức sự kiện, năng lực điều phối chương trình hay giá trị kết nối. Thứ ba, thang đo Con người địa phương chỉ đạt mức độ tin cậy chấp nhận tối thiểu, cho thấy khái niệm này chưa được phản ánh thật sự ổn định thông qua các biến quan sát hiện có. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo nên tiếp tục hiệu chỉnh nội dung thang đo, bổ sung thêm các biến quan sát phù hợp hơn với bối cảnh khách du lịch MICE để nâng cao độ tin cậy và giá trị đo lường.
Tài liệu tham khảo:
1. Abbasi, G. A., Kumaravelu, J., Goh, Y.-N., & Singh, K. S. D. (2021). Understanding the intention to revisit a destination by expanding the theory of planned behaviour (TPB). Spanish Journal of Marketing - ESIC, 25(2), 282-311. https://doi.org/10.1108/SJME-12-2019-0109
2. Alegre, J., & Cladera, M. (2009). Analysing the effect of satisfaction and previous visits on tourist intentions to return. European Journal of Marketing, 43(5/6), 670-685. https://doi.org/10.1108/03090560910946990
3. Anh Nguyet (2026). Lam Dong discusses measures to boost tourism development. Lam Dong E-Newspaper. https://en.baolamdong.vn/expanding-tourism-experiences-to-elevate-lam-dong-s-position-431915.html
4. Bellato, L., Frantzeskaki, N., Briceño Fiebig, C., Pollock, A., Dens, E., & Reed, B. (2022). Transformative roles in tourism: adopting living systems' thinking for regenerative futures. Journal of Tourism Futures, 8(3), 312-329. https://doi.org/10.1108/JTF-11-2021-0256
5. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (2022). Nghị quyết về phát triển du lịch chất lượng cao đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. https://vietnamtourism.gov.vn/post/42650
6. Higgins-Desbiolles, F., Bigby, B. C., & Doering, A. (2022). Socialising tourism after COVID-19: reclaiming tourism as a social force? Journal of Tourism Futures, 8(2), 208-219. https://doi.org/10.1108/JTF-03-2021-0058
7. Nguyễn Phương Tường Lan và Nguyễn Văn Thích (2021b). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại điểm du lịch Bình Quới của du khách nội địa. Hue University Journal of Science: Economics and Development, 130(5C), 5-20. https://doi.org/10.26459/hueunijed.v130i5C.6019
8. Nguyen Thang Quyet và Bui Thi Phuoc (2025). “Tourist satisfaction and revisit intention in tropical mountain resorts: A structural equation modeling study in a developing country context.” Tourism and Hospitality Research. 14673584251387349.
9. Nguyễn Tiến Thành và Lê Văn Huy (2021). Mối quan hệ giữa hình ảnh điểm đến Đà Nẵng và ý định quay lại của du khách nội địa. Tạp Chí Khoa học Và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, 19(4.1), 14-18, https://jst-ud.vn/jst-ud/article/view/7420.
10. PV (2025). Lâm Đồng: Doanh thu từ du lịch ước đạt 18.000 tỷ đồng. https://baolamdong.vn/lam-dong-doanh-thu-tu-du-lich-uoc-dat-18-000-ty-dong-238685.html
11. Reinhold, S., Beritelli, P., Fyall, A., Choi, H.-S. C., Laesser, C., & Joppe, M. (2023). State-of-the-Art Review on Destination Marketing and Destination Management. Tourism and Hospitality, 4(4), 584-603.
12. Thiumsak, T., & Ruangkanjanases, A. (2016). Factors influencing international visitors to revisit Bangkok, Thailand. Journal of Economics, Business and Management, 4(3), 220-230. https://doi.org/10.7763/JOEBM.2016.V4.394
13. Trần Đăng Khoa, Võ Xuân Vinh, Nguyễn Khánh Tùng và Phan Thị Hoàn (2023). Thành công du lịch MICE tại thành phố Cần Thơ: Tiếp cận theo các yếu tố lòng trung thành điểm đến. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính-Marketing, 14(5), 24-34. https://doi.org/10.52932/jfm.vi5.428
14. UNWTO (2019). UNWTO Tourism Definitions. World Tourism Organization. https://www.untourism.int/global/publication/UNWTO-Tourism-definitions
15. Wang, L., & Li, X. (2023). The five influencing factors of tourist loyalty: A meta-analysis. PLOS ONE, 18(4), e0283963. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0283963
| Ngày nhận bài: 1/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 17/5/2026; Ngày duyệt đăng: 29/5/2026 |
Các tin khác
Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam
Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới
Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế
Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư
Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025
Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên
Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai
