Vấn đề việc làm của cư dân vùng biên giới Tây Nam Bộ

Nghiên cứu - Trao đổi 10:00 | 02/11/2026
Lao động và việc làm của cư dân vùng biên trên dải biên giới Tây Ninh - khu vực thuộc tỉnh Long An cũ và Đồng Tháp - khu vực thuộc tỉnh Đồng Tháp cũ (sau đây gọi tắt là Long An - Đồng Tháp) trước và sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính luôn là chủ đề quan trọng, liên quan mật thiết đến ổn định kinh tế - xã hội, phát triển dân sinh và nâng cao an ninh quốc phòng tại chỗ tại vùng biên cương phía Nam của Việt Nam.

TS. Tạ Doãn Cường

Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ

Email: [email protected]

Tóm tắt

Dựa trên cơ sở mối quan hệ tương hỗ giữa phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng, nghiên cứu phân tích hiện trạng việc làm và một số vấn đề liên quan của cư dân vùng biên giới Tây Ninh (khu vực thuộc tỉnh Long An cũ) và Đồng Tháp (khu vực thuộc tỉnh Đồng Tháp cũ) trước khi sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số thách thức và hướng giải pháp mở rộng, nâng cao thu nhập từ việc làm của cư dân vùng biên giới phía Tây Nam Bộ dựa trên hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, chuyển mục đích đất lâu năm trồng lúa và những lợi thế về “Khu kinh tế cửa khẩu dọc theo tuyên biên giới.

Từ khóa: Thu nhập, việc làm, vùng biên, cư dân vùng biên, Tây Nam Bộ

Abstract

Based on the reciprocal relationship between socio-economic development and national defense and security, the study examines the employment situation and related issues among residents of the border areas of Tay Ninh (the area formerly belonging to Long An Province) and Dong Thap (the area formerly belonging to Dong Thap Province) prior to the reorganization of provincial-level administrative units pursuant to National Assembly Resolution No. 202/2025/QH15 dated June 12, 2025. The study also identifies several challenges and proposes solutions to expand employment opportunities and increase employment income among residents of the Southwestern border region of Viet Nam. These solutions focus on agricultural restructuring, the conversion of land-use purposes for long-established rice-growing areas, and the effective utilization of advantages offered by border-gate economic zones along the border.

Keywords: Income, employment, border region, border residents, Southwestern Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển các khu vực biên giới ngày nay luôn gắn với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của cả vùng cùng với nhiều yếu tố liên quan trực tiếp đến điều kiện tự nhiên, dân cư, việc làm... của các khu vực vùng biên. Lao động và việc làm của cư dân vùng biên trên dải biên giới Tây Ninh - khu vực thuộc tỉnh Long An cũ và Đồng Tháp - khu vực thuộc tỉnh Đồng Tháp cũ (sau đây gọi tắt là Long An - Đồng Tháp) trước và sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính luôn là chủ đề quan trọng, không chỉ đơn thuần là vấn đề phát triển kinh tế hay sinh kế hộ gia đình, mà còn liên quan mật thiết đến ổn định kinh tế - xã hội, phát triển dân sinh và nâng cao an ninh quốc phòng tại chỗ tại vùng biên cương phía Nam của Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới, nhận diện các vấn đề đang phát sinh tại vùng biên Tây Nam Bộ là nhiệm vụ quan trọng, cần thường xuyên thực hiện trong bối cảnh quốc tế và khu vực đặc biệt là các quốc gia có chung đường biên với Việt Nam luôn tiềm ẩn nhiều thách thức.

HIỆN TRẠNG VIỆC LÀM CỦA CƯ DÂN TRONG KHU VỰC

Nội dung nghiên cứu dựa trên Kết quả khảo sát và xử lý số liệu từ ngày 1/12/2021-31/5/2024 (trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh)ối với 1.265 người dân vùng biên giới Long An - Đồng Tháp trong đề tài “Phát triển Kinh tế - Xã hội đảm bảo an ninh, quốc phòng trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ trong tình hình hiện nay”, công bố năm 2025, do Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ thực hiện (PGS, TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy làm chủ nhiệm đề tài). Địa bàn nghiên cứu khảo sát trước sắp xếp đơn vị hành chính bao gồm: xã Bình Hiệp (thị xã Kiến Tường); xã Mỹ Quý Tây (huyện Đức Huệ) thuộc tỉnh Long An cũ; xã Thường Phước 1 (TP. Hồng Ngự) và xã Tân Hộ Cơ (huyện Tân Hồng) thuộc tỉnh Đồng Tháp cũ.

Lao động tại chỗ có thu nhập và việc đi làm ăn xa của cư dân biên giới

Lao động tại chỗ có tạo nguồn thu

Trong tổng số 1.265 cá nhân trong mẫu khảo sát, những người có khả năng tạo ra thu nhập (người từ 15 tuổi trở lên) từ việc làm tại chỗ và đi làm ăn xa, nhóm nghiên cứu ghi nhận có tổng số 808 (63,87%) trường hợp đang có thu nhập tại chỗ từ việc làm và lương hưu. Trong đó, tỷ lệ tại địa bàn Long An là hơn 70%, tại Đồng Tháp là hơn 57%. Số người không có thu nhập chiếm 26,48%. Khảo sát cũng cho thấy có 122 cá nhân đi làm ăn xa, chiếm 9.64%; đây được xem là một khuôn mẫu phổ biến, khi cơ hội việc làm tại nơi sinh trưởng không đáp ứng được và người dân chủ động đi làm ăn xa tìm kiếm việc làm (Bảng 1).

Bảng 1: Nguồn thu từ việc làm tại chỗ của cư dân và cư dân đi làm ăn xa chia theo địa bàn

Đơn vị: Người và %

Long An

Đồng Tháp

Tổng cộng

N

%

N

%

N

%

Có thu nhập

460

70,02

348

57,24

808

63,87

Không có thu nhập

157

23,90

178

29,28

335

26,48

Đi làm ăn xa

40

6,09

82

13,49

122

9,64

Tổng cộng

657

100,00

608

100,00

1.265

100,00

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

Nguồn thu từ việc làm chia theo độ tuổi lao động

Nguồn thu từ việc làm trong nghiên cứu này được hiểu chung nhất là những dòng thu nhập phát sinh từ hoạt động lao động hiện tại hoặc là kết quả của các hoạt động lao động trong quá khứ. Có thể hiểu nguồn thu từ việc làm được chia thành 2 dạng: (1) Thu nhập từ việc làm hiện tại của những người hiện đang tham gia thị trường lao động và (2) Thu nhập có nguồn gốc từ việc làm trong quá khứ điển hình là lương hưu. Người hưởng lương hưu hiện tại không còn làm việc, nhưng lương hưu là kết quả của quá trình lao động, đóng bảo hiểm và tích lũy quyền hưởng lương hưu trước đó.

Bảng 2: Nguồn thu từ việc làm chia theo độ tuổi lao động

Đơn vị: Người và %

Trong tuổi lao động

Trên tuổi lao động

Tổng cộng

Có thu nhập

671

66,50

137

53,52

808

63,87

Không có thu nhập

217

21,51

118

46,09

335

26,48

Đi làm ăn xa

121

11,99

1

0,39

122

9,64

Tổng cộng

1.009

100,00

256

100,00

1.265

100,00

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm cư dân trong độ tuổi lao động (15-62 tuổi với lao động nam và đạt 60 tuổi với lao động nữ) có 1.009/1.265 người chiếm 79,76%; nhóm trên tuổi lao động là 256/1.265 người, chiếm 20,24%.

Trong tổng số 1.009 cá nhân trong độ tuổi lao động, nghiên cứu ghi nhận 671 người (66,50%) có thu nhập tại chỗ. Đáng lưu ý, có tới 217/1.009 trường hợp chiếm 21,51% những người đang ở tuổi lao động nhưng hoàn toàn không có thu nhập. Số đi làm ăn xa trong độ tuổi này là 121 người (11,99%). Ở một chiều khác, trong tổng số 335 trường hợp không có nguồn thu tại chỗ, số người trong độ tuổi lao động là 217/335 cá nhân, lên đến 64,78%, cho thấy việc làm tại chỗ cho người lao động ở vùng biên còn rất thiếu (Bảng 2).

Cơ cấu việc làm và sinh kế của cư dân vùng biên

Trong tổng số 808 trường hợp có tạo thu nhập, nhóm ngành nông ngư nghiệp chỉ chiếm 22,28%. Số việc làm trong nhóm phi nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao là 77,61% trong đó buôn bán, dịch vụ là 38,37%; lao động phổ thông là 20,67 %; cơ khí, điện gia dụng là 2,48% và tiểu thủ công nghiệp là 5,82%.

Buôn bán qua lại biên giới là một lợi thế tại khu vực vùng biên. Khảo sát cho thấy, việc buôn bán ở vùng biên là nhóm công việc chiếm tỷ lệ cao nhất (38,37%) nhóm ngành này củ thể riêng tại Long An lên đến 34,57% và Đồng Tháp lên đến 43,39%. Nhóm ngành nông, ngư nghiệp đứng thứ hai chiếm 22,28% và tỷ lệ việc làm tại chỗ thấp nhất là những người làm việc trong lực lượng vũ trang tại vùng biên (0,99%) theo mẫu khảo sát (Bảng 3).

Mức độ ổn định của việc làm tại Long An và Đồng Tháp cũng có sự khác biệt. Lao động phổ thông tính chung cho toàn tuyến biên giới Long An - Đồng Tháp chiếm 20,67% đứng thứ ba trong các nhóm ngành nghề hiện có. Tại Long An, nhóm lao động phổ thông chỉ chiếm 12,39%, nhưng tại Đồng Tháp con số này lên hơn 1/3 số có thu nhập (31,61%).

Bảng 3: Việc làm tạo thu nhập chia theo khu vực Long An và Đồng Tháp

Đơn vị: Người và %

Việc làm tạo thu nhập

Long An

Đồng Tháp

Tổng cộng

N

%

N

%

N

%

Buôn bán, dịch vụ

159

34,57

151

43,39

310

38,37

Nông, ngư nghiệp

130

28,26

50

14,37

180

22,28

Lao động phổ thông

57

12,39

110

31,61

167

20,67

Công nhân, viên chức

66

14,35

9

2,59

75

9,28

Tiểu thủ công nghiệp

31

6,74

16

4,60

47

5,82

Cơ khí, điện gia dụng

10

2,17

10

2,87

20

2,48

Lực lượng vũ trang

6

1,30

2

0,57

8

0,99

Nhận lương hưu

1

0,22

0

0,00

1

0,12

Tổng cộng

460

100,00

348

100,00

808

100,00

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

MỘT SỐ THÁCH THỨC

Khu vực biên giới là nơi các hoạt động kinh tế hợp pháp và phi pháp có thể cùng tồn tại; chất lượng của thị trường lao động có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi kinh tế thuần túy. Một vùng biên giới kinh tế chậm phát triển, người dân thiếu việc làm, thu nhập thấp, sinh kế không bền vững thì dễ phát sinh các vấn đề an ninh tại chỗ. Người dân thiếu việc làm sẽ có khả năng tham gia các hoạt động kinh tế bất hợp pháp như buôn lậu, gian lận hay tiếp tay cho gian lận thương mại xuyên biên giới, dẫn đến chính quyền khó kiểm soát xã hội và gia tăng các rủi ro an ninh vùng biên.

Nhìn chung, thu nhập từ việc làm tại địa bàn nghiên cứu còn thấp, trong đó: Nhóm thu nhập thấp nhất (Nhóm 1) tại Long An chỉ có 931.000 đ/người/tháng. Nhóm này tại Đồng Tháp là 847.000 đồng/người/tháng. Nhóm thu nhập cao nhất tại Long An là 7.385.000 đồng/người/tháng và Đồng Tháp chỉ có 5.409.000 đồng/người/tháng (Bảng 4).

Bảng 4: Bình quân thu nhập đầu người chia theo 5 nhóm thu nhập và theo địa bàn tỉnh

Đơn vị: 1.000 đồng/người/tháng

Địa bàn khảo sát

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Long An

931

1.555

2.151

3.049

7.385

Đồng Tháp

847

1.599

2.247

3.002

5.409

Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025)

Sinh kế của cư dân khu vực liên quan đến ngành nghề Nông, ngư nghiệp (22,28%) và Lao động phổ thông (20,67%) vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao, cho thấy tính ổn định, bền vững về việc làm và sinh kế của cư dân còn thấp.

Ngoài ra, ở một số cụm, tuyến dân cư dọc biên giới phía Nam, hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhân dân thiếu việc làm ổn định, trình độ dân trí không đồng đều. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình hình tội phạm, tệ nạn xã hội... vẫn còn diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ biên giới (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, 2022). Hầu hết đối tượng vận chuyển thuê, tiếp tay buôn lậu thuốc lá là dân nghèo sống dọc tuyến biên giới, không nghề nghiệp ổn định, không có đất canh tác. Mặc dù có sự quan tâm từ các cơ quan Trung ương đến địa phương, nhiều chủ trương, chính sách được triển khai, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt như mong muốn (Thiện Thảo, 2019).

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Nhằm mở rộng và nâng cao thu nhập từ việc làm của cư dân vùng biên giới Tây Nam Bộ, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp vùng biên. Theo đó, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển từ đất trồng lúa sang các loại cây trồng có giá trị cao hơn, phù hợp hơn với điều kiện tại từng địa phương và nhu cầu từ thị trường là hướng giải pháp quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế giả quyết việc làm tăng thu nhập của vùng nông nghiệp, nông thôn biên giới phía Nam.

Thứ hai, đầu tư, phát triển “Khu kinh tế cửa khẩu” dọc tuyến biên giới Long An - Đồng Tháp. Cụ thể, việc đầu tư, mở rộng các “Khu kinh tế của khẩu” để khai thác tiềm năng kinh tế biên mậu khu vực biên giới là hướng giải pháp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời giải quyết trực tiếp các vấn đề liên quan đến việc làm, thu nhập của người dân giáp biên giới.

Dải biên giới Long An - Đồng Tháp có nhiều của khẩu có vị thế quan trọng. Long An có 3 cửa khẩu là cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp, cửa khẩu Mỹ Quý Tây và cửa khẩu phụ Hưng Điền A; Đồng Tháp có 7 cửa khẩu, trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế (Thường Phước, Dinh Bà) và 5 cửa khẩu phụ (Sở Thượng, Mộc Rá, Á Đôn, Bình Phú và Thông Bình). Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác và phát triển kinh tế biên mậu ở vùng biên giới Long An - Đồng Tháp. Hiện nay, dựa trên các khu vực cửa khẩu, các “Khu kinh tế cửa khẩu” được quy hoạch phát triển và đóng vai trò hạt nhân quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực vùng biên. Việc tiếp tục thu hút và hoàn thành các giai đoạn đầu tư nhiều dự án quy mô lớn tại các khu kinh tế của khẩu tại Long An và Đồng Tháp, quy hoạch nâng cấp các cửa khẩu thành cửa khẩu quốc tế sẽ mở ra nhiều cơ hội kinh doanh qua lại trực tiệp tại vùng biên, gia tăng nhiều việc làm phi nông nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (2022). Xây dựng thế trận Biên phòng toàn dân trên khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp. http://bienphongvietnam.gov.vn/xay-dung-the-tran-bien-phong-toan-dan-tren-khu-vuc-bien-gioi-tinh-dong-thap.html.

2. Nguyễn Thị Thanh Thủy (2025). Phát triển Kinh tế - Xã hội đảm bảo an ninh, quốc phòng trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ trong tình hình hiện nay. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ.

3. Thiện Thảo (2019). Gian nan chống buôn lậu ở biên giới Tây Nam: Làm thế nào để giảm buôn lậu ở vùng biên? https://congan.com.vn/an-ninh-kinh-te/gian-nan-chong-buon-lau-o-bien-gioi-tay-nam-ky-cuoi_84667.html

Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2026; Ngày duyệt đăng: 29/10/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng bùng nổ. Đặc biệt, TP. Hồ Chí Minh là đầu tàu của xu hướng này với doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 4,7 tỷ USD chiếm gần một phần tư cả nước và tốc độ tăng trưởng lên tới 37%, cao nhất cả nước.
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực trụ cột của tăng trưởng và xuất khẩu ở nhiều nền kinh tế Đông Nam Á, nhưng lợi ích dài hạn của FDI không nằm ở quy mô vốn mà ở khả năng chuyển hóa thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp nội địa.
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ

TikTok Shop nổi lên như một mô hình thương mại điện tử tích hợp giải trí, nơi người tiêu dùng vừa tiếp nhận nội dung video ngắn vừa có thể thực hiện thao tác mua hàng ngay trên cùng một nền tảng; khác với các sàn thương mại điện tử truyền thống.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)

Trong quản trị y tế ngày nay, sự hài lòng của người bệnh không chỉ là phản ứng sau sử dụng dịch vụ mà còn là chỉ báo phản ánh chất lượng vận hành, mức độ lấy người bệnh làm trung tâm và khả năng duy trì niềm tin.
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu

Bằng chứng về tác động của đổi mới xanh đến hiệu quả doanh nghiệp chưa thống nhất, một phần do đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có cơ chế tạo giá trị khác nhau. Bài viết phân tích tác động riêng của hai hình thức đổi mới này đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm tại Việt Nam trong bối cảnh tăng trưởng xanh.
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng

Trong bối cảnh các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên dần chạm giới hạn, việc dịch chuyển từ tư duy “mở rộng nguồn lực” sang “mở rộng không gian phát triển” trở thành yêu cầu cấp thiết.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, tiêu dùng bền vững ngày càng được quan tâm tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa xanh nhập khẩu.
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên Sơn Trà

Sơn Trà sở hữu nhiều lợi thế về cảnh quan và đa dạng sinh học, tạo tiềm năng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản thiên nhiên.