Vai trò của xuất khẩu, FDI và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đến tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ Việt Nam và các đối tác thương mại

Kinh tế 17:36 | 15/06/2026 Phùng Mai Lan
Nghiên cứu đánh giá vai trò của tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và các nước đối tác thương mại.

Phùng Mai Lan

Khoa Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Thuỷ lợi

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá vai trò của tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và các nước đối tác thương mại. Sử dụng dữ liệu bảng của 51 quốc gia giai đoạn 2013-2023 và phương pháp System GMM, nghiên cứu xem xét tác động của tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy, tham gia tham gia chuỗi giá trị toàn cầu có tác động tích cực đến tăng trưởng, trong đó xuất khẩu đóng vai trò là kênh truyền dẫn quan trọng. Bên cạnh đó, tác động của tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trở nên mạnh hơn khi khoảng cách công nghệ lớn hơn, phản ánh vai trò của năng lực hấp thụ. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao chất lượng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Từ khoá: Chuỗi giá trị toàn cầu, tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, Việt Nam

Abstract

The study evaluates the role of participation in global value chains on economic growth in Viet Nam and its trading partner countries. Using panel data for 51 countries over the period 2013-2023 and the System Generalized Method of Moments (System GMM) approach, the study examines the impact of participation in global value chains, exports, and foreign direct investment on economic growth. The results show that participation in global value chains has a positive impact on growth, in which exports play an important transmission channel. In addition, the impact of participation in global value chains becomes stronger when technological gaps are larger, reflecting the role of absorptive capacity. From these findings, the study proposes several policy implications aimed at upgrading positions in global value chains, improving export quality, and promoting economic growth.

Keywords: Global value chains, economic growth, exports, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tái cấu trúc sản xuất quốc tế, thương mại quốc tế đã chuyển từ mô hình sản xuất tập trung sang chuyên môn hoá xuyên biên giới, hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC). Khi đó, giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu không còn hoàn toàn thuộc về quốc gia xuất khẩu cuối cùng, mà bao gồm một phần đáng kể giá trị nhập khẩu từ nước ngoài (Koopman và cộng sự, 2014; Bojan Shimbov và cộng sự, 2025). Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu xuất khẩu như một mắt xích trong cơ chế truyền dẫn của GVC, thay vì chỉ là kết quả cuối cùng của hoạt động thương mại (Nguyen và cộng sự, 2023).

Đối với Việt Nam, xuất khẩu được xem là trụ cột tăng trưởng. Tuy nhiên, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu đến từ khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho thấy, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế. Điều này hàm ý rằng mặc dù tham gia GVC ngày càng sâu, khả năng chuyển hóa lợi ích hội nhập thành giá trị gia tăng nội địa vẫn còn thấp (Nguyen và cộng sự, 2023). Do đó, cần phân tích tăng trưởng trong bối cảnh mạng lưới các đối tác thương mại để phản ánh đầy đủ hơn quá trình hội nhập kinh tế.

Chính vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng một khung phân tích tích hợp, xem xét đồng thời vai trò của FDI, xuất khẩu và tham gia GVC trong một cơ chế truyền dẫn thống nhất. Nghiên cứu không chỉ góp phần làm rõ động lực tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh hội nhập mà còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm có ý nghĩa cho việc hoạch định chính sách, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả thu hút FDI, thúc đẩy xuất khẩu và cải thiện vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các nghiên cứu cho thấy, tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa không còn được quyết định bởi các yếu tố riêng lẻ như xuất khẩu hay FDI, mà phụ thuộc vào mức độ tham gia và vị trí của quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất khẩu được xem là động lực quan trọng của tăng trưởng thông qua hiệu ứng lan tỏa công nghệ, mở rộng quy mô thị trường và nâng cao năng suất (Feder, 1983; Eladie và Arsense, 2019; Zahonogo, 2017). Tuy nhiên, tác động này không mang tính tự động mà phụ thuộc vào cơ cấu xuất khẩu và năng lực hấp thụ của nền kinh tế (Hausmann và cộng sự, 2007).

Trong khi đó, sự phát triển của GVC đã làm thay đổi bản chất của thương mại quốc tế, khi quá trình sản xuất được phân tách giữa nhiều quốc gia. Việc tham gia GVC cho phép các quốc gia tiếp cận công nghệ, kỹ năng và thị trường quốc tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lợi ích từ GVC không đồng đều mà phụ thuộc vào vị trí trong chuỗi giá trị và khả năng nâng cấp công nghệ; các quốc gia đang phát triển thường tập trung ở các khâu có giá trị gia tăng thấp (Timmer và cộng sự, 2014; World Bank, 2020).

Đối với FDI, Lý thuyết kinh tế quốc tế cho rằng FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng thông qua chuyển giao công nghệ, tích lũy vốn và cải thiện năng lực quản lý (Borensztein và cộng sự, 1998). Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, tác động của FDI phụ thuộc vào điều kiện hấp thụ của nền kinh tế, bao gồm chất lượng thể chế, phát triển tài chính và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước (Alfaro và cộng sự, 2004; Nguyen và cộng sự, 2021). Trong nhiều trường hợp, FDI không tác động trực tiếp mà thông qua các kênh trung gian như xuất khẩu và tham gia GVC.

Điều này cho thấy xuất khẩu, FDI và GVC có mối quan hệ tương tác chặt chẽ trong bối cảnh sản xuất chuyên môn hoá toàn cầu. FDI thường thúc đẩy tham gia GVC và hoạt động xuất khẩu, trong khi GVC đóng vai trò như một cơ chế trung gian giúp chuyển hóa các yếu tố này thành tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, khoảng cách công nghệ có thể điều tiết hiệu quả của quá trình này thông qua khả năng học hỏi và nâng cấp công nghệ. Do đó, việc phân tích các yếu tố này trong một khung tích hợp cho phép làm rõ cơ chế truyền dẫn giữa hội nhập kinh tế quốc tế và tăng trưởng kinh tế.

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đánh giá tác động của GVC và xem xét cơ chế truyền dẫn tới tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng động xây dựng như sau:

Vai trò của xuất khẩu, FDI và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đến tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ Việt Nam và các đối tác thương mại

Trong đó:

- lngdp: tăng trưởng kinh tế;

- lngvc: mức độ tham gia GVC: Logarit của GVC theo công thức: GVC = Tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của hàng hóa trung gian chuyên biệt * 100/Tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia;

- lnxk: xuất khẩu: Logarit của giá trị xuất khẩu;

- lnFDI: Logarit của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia;

- X: các biến kiểm soát (khoảng cách công nghệ, mật độ dân số, chi tiêu chính phủ, đầu tư):

+ Techgap: Tỷ lệ TFP của quốc gia so với quốc gia dẫn đầu, phản ánh lợi thế của người đi sau. Trong đó TFP được đo lường theo phương pháp GMM của Wooldridge (2009);

+ Lnpop_den: Logarit của mật độ dân số

+ Lnexpen_gov: Logarit của chi tiêu của Chính phủ

+ Lninvest: Logarit của đầu tư

Ngoài ra, nghiên cứu mở rộng mô hình bằng cách lần lượt đưa vào các biến tương tác giữa tham gia GVC và các yếu tố liên quan, bao gồm GVC×Export, GVC×FDI và GVC×TechGap, nhằm kiểm định cơ chế truyền dẫn và vai trò điều tiết của các biến này trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế.

Do khả năng tồn tại khả năng nội sinh giữa các biến như FDI, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu sử dụng phương pháp System GMM được đề xuất bởi Arellano và Bond (1991) được mở rộng bởi Blundell và Bond (1998). Phương pháp này cho phép kiểm soát nội sinh thông qua biến trễ làm công cụ, xử lý sai lệch do biến bị bỏ sót đồng thời phù hợp với dữ liệu bảng có số quốc gia lớn và thời gian ngắn. Các kiểm định Arellano-Bond để kiểm tra tự tương quan và kiểm định Hansen/Sargan được thực hiện để đánh giá tính hợp lệ của biến công cụ.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nguồn số liệu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu mảng bao gồm 51 quốc gia trong giai đoạn 2013-2023 với tổng số 561 quan sát. Nguồn dữ liệu được thu thập từ Ngân hàng thế giới (World Bank), Tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD), Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), cơ sở dữ liệu Liên hợp quốc. Các biến giá trị đều được giảm phát theo năm 2015.

Theo kết quả thống kê mô tả (Bảng 1), giá trị trung bình của GDP (lngdp) đạt 26,330, cho thấy quy mô kinh tế tương đối lớn của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Biến tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (lngvc) có giá trị trung bình là 3,283, cho thấy mức độ tham gia GVC ở mức trung bình, hàm ý rằng các quốc gia trong mẫu có sự hội nhập nhất định vào chuỗi sản xuất toàn cầu nhưng chưa ở mức cao. Xuất khẩu (lnxk) có giá trị trung bình 25,370, khá gần với GDP, phản ánh vai trò quan trọng của hoạt động thương mại trong cấu trúc kinh tế của các quốc gia này.

Bảng 1: Thống kê mô tả các biến số đưa vào mô hình

Tên biến

Slg quan sát

Mean

Độ lệch chuẩn

Min

Max

lngdp

561

26,330

1,640

22,986

30,500

lngvc

561

3,283

1,314

-21,807

11,757

lnxk

561

25,370

1,942

15,119

46,811

tech_gap

561

0,024

0,139

0,000

1,000

lnfdi

561

9,040

1,669

3,825

13,055

lnpop_den

561

4,573

1,391

1,102

9,017

lnexpen_gov

561

16,448

4,444

4,512

26,953

lninvest

561

21,884

1,743

17,033

26,789

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu thu thập được

Kết quả nghiên cứu định lượng

Bảng 2 cho thấy, kết quả ước lượng mô hình tác động của GVC cùng cơ chế truyền dẫn tới tăng trưởng kinh tế theo 4 mô hình: (1) mô hình gốc, (2) mô hình bổ sung biến tương tác GVC*xk, (3) mô hình bổ sung biến tương tác GVC_FDI, (4) mô hình bổ sung biến tương tác GVC_techgap.

Kết quả kiểm định tự tương quan cho thấy, AR(1) đều có ý nghĩa thống kê trong khi AR(2) không có ý nghĩa thống kê trong tất cả các mô hình. Điều này khẳng định cả 4 mô hình không có tự tương quan bậc 2, các mô hình là hợp lệ. Kết quả kiểm định Sargan và Hansen đều cho thấy, không có ý nghĩa thống kê trong tất cả các mô hình. Điều này khẳng định các biến công cụ là phù hợp, không có dấu hiệu quá nhiều biến công cụ. Như vậy, mô hình SGMM là đáng tin cậy và có thể sử dụng để đánh giá.

Kết quả ước lượng từ mô hình System GMM cho thấy, tăng trưởng kinh tế có tính động rất cao, với hệ số của biến trễ GDP xấp xỉ 1 và có ý nghĩa thống kê mạnh. Điều này phù hợp với thực tế, phản ánh sự phụ thuộc của tăng trưởng hiện tại vào quá trình tích lũy trong quá khứ và các cú sốc kinh tế và thương mại có xu hướng lan tỏa trong thời gian dài.

Bảng 2: Kết quả ước lượng mô hình tác động tới tăng trưởng kinh tế

(1)

(2)

(3)

(4)

Tên biến

SGMM

SGMM

GVC_XK

SGMM

GVC_FDI

SGMM

GVC_Techgap

L.lngdp

1,014***

1,014***

1,013***

0,985***

(0,00988)

(0,0122)

(0,00950)

(0,0158)

lngvc

0,0236**

0,150**

0,0585

0,0625***

(0,00965)

(0,0738)

(0,0356)

(0,0197)

lnxk

0,0373**

0,0566*

0,0194

0,0492**

(0,0166)

(0,0287)

(0,0155)

(0,0196)

tech_gap

-0,0740

-0,0435

-0,0557

-0,0823

(0,0658)

(0,0709)

(0,0700)

(0,0786)

lnfdi

0,0196*

0,0153

0,0305***

0,0184

(0,0109)

(0,0102)

(0,0113)

(0,0114)

lnpop_den

-0,0168*

-0,0144

-0,0123

-0,0148

(0,00874)

(0,0114)

(0,00800)

(0,0109)

lnexpend_gov

-0,143***

-0,175**

-0,112*

-0,192***

(0,0515)

(0,0701)

(0,0594)

(0,0657)

lninvest

-0,0375**

-0,0513**

-0,0342**

-0,0387***

(0,0145)

(0,0209)

(0,0142)

(0,0137)

GVC*xk

-0,00578*

(0,00316)

GVC*FDI

-0,00608

(0,00495)

GVC*tech_gap

0,00953***

(0,00316)

Hệ số chặn

0,235

-0,254

-0,0327

0,470

(0,384)

(0,480)

(0,454)

(0,634)

Số quan sát

510

510

510

510

Số nước

51

51

51

51

AR(1)

0,007

0,012

0,015

0,055

AR(2)

0,145

0,257

0,102

0,445

Sargan

0,195

0,172

0,205

0,519

Hansen

0,413

0,339

0,538

0,343

Ghi chú: Trong ( ) thể hiện sai số chuẩn, Ký hiệu: *** p < 0,01, ** p < 0,05, * p < 0,1

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu thu thập được

Biến xuất khẩu (lnxk) có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê trong hầu hết các mô hình, khẳng định vai trò tích cực của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, mô hình 1 cho thấy khi xuất khẩu tăng 1%, GDP có xu hướng tăng khoảng 0,0373%, điều này phù hợp với Lý thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, mở rộng thị trường quốc tế giúp các quốc gia gia tăng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tiếp cận công nghệ tiên tiến từ bên ngoài.

Biến lngvc có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê trong hầu hết các mô hình, cho thấy tham gia chuỗi giá trị toàn cầu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khi GVC tăng 1% thì GDP tăng 0,0236%. Điều này phản ánh vai trò của GVC trong việc mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất và đặc biệt là tạo kênh tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Tuy nhiên, mức độ tác động chưa ổn định giữa các mô hình, hàm ý rằng lợi ích từ GVC phụ thuộc vào năng lực nội tại của nền kinh tế.

Điểm đáng lưu ý là khi xem xét biến tương tác giữa GVC và xuất khẩu (GVC_xk), hệ số ước lượng lại mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cho thấy việc tham gia GVC có thể làm suy giảm tác động tích cực của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế. Một trong những lý giải cho vấn đề này là các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, thường tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị như gia công và lắp ráp. Do đó, mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng phần giá trị thực sự lại không cao do phụ thuộc lớn vào nhập khẩu đầu vào trung gian. Điển hình như Việt Nam, mặc dù xuất khẩu tăng trưởng mạnh, đặc biệt trong các ngành như điện tử, dệt may và giày dép, nhưng phần lớn hoạt động sản xuất vẫn nằm ở khâu lắp ráp với sự chi phối của các doanh nghiệp FDI. Điều này khiến giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế và làm giảm hiệu quả lan tỏa của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, sự phụ thuộc vào công nghệ và linh kiện nhập khẩu cũng làm giảm khả năng tận dụng lợi ích từ hội nhập vào GVC.

Biến GVC*FDI không có ý nghĩa thống kê, hàm ý rằng sự kết hợp giữa GVC và FDI chưa tạo ra hiệu ứng lan tỏa rõ rệt. Trong khi đó, biến GVC*tech_gap có hệ số dương và có ý nghĩa, cho thấy khi tồn tại khoảng cách công nghệ, tham gia GVC có thể giúp thu hẹp khoảng cách này thông qua học hỏi và chuyển giao công nghệ. Đây là biểu hiện của hiệu ứng bắt kịp công nghệ, trong đó các nền kinh tế đi sau có thể cải thiện năng suất thông qua liên kết với các chuỗi sản xuất toàn cầu.

Như vậy, GVC có tác động tích cực đến tăng trưởng, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cách thức tham gia và các điều kiện đi kèm như xuất khẩu, FDI và năng lực công nghệ. Kết quả này phù hợp với lập luận của Timmer và cộng sự (2014), trong đó nhấn mạnh rằng lợi ích từ GVC phụ thuộc vào mức độ nâng cấp trong chuỗi giá trị.

Một phát hiện đáng chú ý là FDI không có tác động trực tiếp rõ ràng đến tăng trưởng kinh tế. Điều này cho thấy sự khác biệt trong hiệu quả của FDI giữa các quốc gia trong mẫu. Nguyên nhân có thể xuất phát từ việc FDI trong các nền kinh tế đang phát triển thường tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng thấp và mức độ liên kết hạn chế với khu vực doanh nghiệp nội địa, dẫn đến hiệu ứng lan tỏa công nghệ không mạnh. Ngoài ra, lợi nhuận từ FDI có thể được chuyển ra nước ngoài, làm giảm tác động ròng đến tăng trưởng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Alfaro và cộng sự (2004), trong đó chỉ ra rằng, tác động của FDI phụ thuộc vào điều kiện tài chính và khả năng hấp thụ của nền kinh tế tiếp nhận.

Bên cạnh đó, các biến kiểm soát như chi tiêu chính phủ và đầu tư có hệ số âm trong một số mô hình, điều này có thể phản ánh hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa tối ưu hoặc hiện tượng đầu tư kém hiệu quả trong một số nền kinh tế. Trong bối cảnh dữ liệu bao gồm nhiều quốc gia với trình độ phát triển khác nhau, kết quả này cho thấy vai trò của thể chế và chất lượng quản lý trong việc chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng kinh tế.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh hội nhập không được quyết định bởi các yếu tố riêng lẻ mà là kết quả của sự tương tác giữa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, xuất khẩu và dòng vốn FDI. Trong đó, tham gia GVC đóng vai trò quan trọng nhưng không mang lại lợi ích đồng đều, mà phụ thuộc vào vị trí trong chuỗi và khả năng hấp thụ công nghệ của từng quốc gia. Đồng thời, xuất khẩu được xác định là kênh truyền dẫn chủ yếu thông qua đó các lợi ích từ hội nhập và tham gia GVC được chuyển hóa thành tăng trưởng kinh tế, trong khi tác động của FDI có xu hướng gián tiếp hơn là trực tiếp.

Trên cơ sở các kết quả thu được, nghiên cứu rút ra một số hàm ý chính sách có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

Thứ nhất, các quốc gia, đặc biệt là Việt Nam, cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô tham gia GVC sang nâng cấp vị thế trong chuỗi, hướng tới các khâu có giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ hai, cần thúc đẩy nâng cao chất lượng xuất khẩu thay vì chỉ gia tăng kim ngạch, thông qua phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI.

Thứ ba, chính sách thu hút FDI cần định hướng theo chất lượng, ưu tiên các dự án có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa công nghệ và liên kết với nền kinh tế nội địa. Cuối cùng, việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, cải thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực là điều kiện then chốt để chuyển hóa hiệu quả các lợi ích từ hội nhập kinh tế quốc tế thành tăng trưởng bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Alfaro, L., Chanda, A., Kalemli-Ozcan, S., & Sayek, S. (2004). FDI and economic growth: The role of local financial markets. Journal of International Economics, 64(1), 89-112. https://doi.org/10.1016/S0022-1996(03)00081-3

2. Arellano, M., & Bond, S. (1991). Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations. The Review of Economic Studies, 58(2), 277-297. https://doi.org/10.2307/2297968

3. Blundell, R., & Bond, S. (1998). Initial conditions and moment restrictions in dynamic panel data models. Journal of Econometrics, 87(1), 115-143. https://doi.org/10.1016/S0304-4076(98)00009-8

4. Bojan Shimbov & Andrea Éltető & Maite Alguacil (2025). Global value chain participation and the technology structure of exports: experience from the Central and Southeast European countries. Journal of Applied Economics, 28(01), 2564968-256.

5. Borensztein, E., De Gregorio, J., & Lee, J. W. (1998). How does foreign direct investment affect economic growth?. Journal of International Economics, 45(1), 115-135.

6. Eladie Mania and Arsène Rieber (2019). Product export diversification and sustainable economic growth in developing countries. Structural Change and Economic Dynamics, 51, 138-151.

7. Feder, G. (1983). On exports and economic growth. Journal of Development Economics, 12(1-2), 59-73.

8. Hausmann, R., Hwang, J., & Rodrik, D. (2007). What you export matters. Journal of Economic Growth, 12(1), 1-25.

9. Koopman và cộng sự, 2014. Tracing Value-Added and Double Counting in Gross Exports. American Economic Review, 104(2), 459-494.

10. Nguyen, T. N. D., Tran, Q. C., & Nguyen, N. T. (2023). The impact of global value chain integration on export: Evidence from Vietnam. In Optimal transport statistics for economics and related topics. Springer. https://doi.org/10.1007/978-3-031-35763-3_31

11. Timmer, M. P., Erumban, A. A., Los, B., Stehrer, R., & de Vries, G. J. (2014). Slicing up global value chains. Journal of Economic Perspectives, 28(2), 99-118.

12. World Bank. (2020). World Development Report 2020: Trading for Development in the Age of Global Value Chains. Washington, DC: World Bank.

13. Zahonogo, P. (2017). Trade and Economic Growth in Developing Countries: Evidence from Sub-Saharan Africa. Journal of African Trade, 3, 41-56.

Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/6/2026; Ngày duyệt đăng; 15/6/2026

Các tin khác

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình tác động của dịch vụ logistics đến phát triển du lịch tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh đang nỗ lực định vị là một trong những trung tâm du lịch năng động hàng đầu khu vực Đông Nam Á, yêu cầu phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ toàn diện, đặc biệt là logistics du lịch ngày càng trở nên cấp thiết.
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường carbon tại Việt Nam

Thị trường carbon được xem là một công cụ kinh tế cho phép trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, qua đó tạo động lực giảm phát thải, huy động nguồn lực tài chính cho các dự án phát triển xanh và nâng cao tính linh hoạt trong thực hiện các mục tiêu khí hậu
Kinh nghiệm quốc tế tăng trưởng 2 con số và bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế tăng trưởng 2 con số và bài học cho Việt Nam

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn như quy mô nền kinh tế liên tục được mở rộng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt và vị thế quốc tế được nâng cao. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người của Việt Nam ước đạt khoảng 5.066 USD (World Bank, 2026), đưa nước ta vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao.
Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Kiểm soát đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam: Cân bằng giữa an ninh quốc gia và thu hút đầu tư

Nghiên cứu làm rõ yêu cầu cân bằng giữa bảo đảm an ninh quốc gia và thu hút FDI thông qua các tiêu chí kiểm soát minh bạch, rõ ràng và tương xứng với mức độ rủi ro, trên cơ sở phân tích cơ chế kiểm soát đầu tư nước ngoài vào nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam.
Tỷ giá hối đoái và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm giai đoạn 2017-2025

Tỷ giá hối đoái và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm giai đoạn 2017-2025

Nghiên cứu phân tích tác động của tỷ giá hối đoái đến hiệu quả tài chính của 30 doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn tại Việt Nam giai đoạn 2017-2025, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao khả năng ứng phó với biến động tỷ giá.
Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Thương mại quốc tế và FDI là 2 kênh quan trọng qua đó hội nhập kinh tế có thể tác động đến quy mô GRDP thực của địa phương. Tuy nhiên, mức độ chuyển hóa các lợi ích này còn phụ thuộc vào vốn con người, chất lượng thể chế và khả năng hấp thụ.
Điều kiện cần về thể chế địa phương đối với thu hút FDI

Điều kiện cần về thể chế địa phương đối với thu hút FDI

Nghiên cứu tập trung đánh giá mối quan hệ giữa chất lượng điều hành địa phương và vốn FDI, đồng thời xem xét vai trò của đào tạo lao động và gia nhập thị trường như những điều kiện tiềm năng đối với khả năng thu hút FDI quy mô lớn.
Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng

Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI của Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và triển vọng

Những năm gần đây, chuỗi cung ứng toàn cầu đang trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc. Quá trình này không chỉ làm thay đổi cấu trúc thương mại quốc tế, mà còn tạo ra sự dịch chuyển trong phân bổ dòng vốn FDI giữa các quốc gia.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối giữa nhà khoa học và thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Tri thức khoa học tạo ra giá trị kinh tế và xã hội khi được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có khả năng ứng dụng.
Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam: Đánh giá qua các chỉ số quốc tế và một số vấn đề đặt ra

Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam: Đánh giá qua các chỉ số quốc tế và một số vấn đề đặt ra

Đối với Việt Nam, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia là một trong những yêu cầu trọng tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.