Ứng dụng các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của các hộ chăn nuôi tại khu vực phía Tây TP. Hải Phòng
Phạm Thanh Lan (Tác giả liên hệ)
Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Email: [email protected]
Lê Phương Nam, Nguyễn Mạnh Hiếu, Đỗ Thị Diệp,
Nguyễn Thị Ngọc Thương, Nguyễn Hữu Giáp, Hồ Ngọc Cường, Trần Thị Thu Trang
Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tóm tắt
Quá trình chuyển đổi nông nghiệp phát thải thấp phụ thuộc vào việc ứng dụng các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của của các nông hộ. Khảo sát 200 hộ chăn nuôi tại khu vực phía Tây TP. Hải Phòng đã chỉ ra một nghịch lý: hộ nông dân nhận thức rõ hậu quả biến đổi khí hậu nhưng mơ hồ về khái niệm khí nhà kính và trách nhiệm của bản thân trong giảm thiểu khí nhà kính. Trong thực tiễn, họ ưu tiên ứng dụng các biện pháp đơn giản như cải thiện môi trường tại chỗ là hầm biogas và đệm lót sinh học với tỷ lệ hộ ứng dụng tương ứng 65% và 56,5%. Nút thắt lớn nhất kìm hãm việc ứng dụng là hạn chế về kỹ thuật và sự thiếu vắng tín hiệu thị trường trong phân biệt giá dành cho nông sản phát thải thấp. Do đó, chính sách hỗ trợ cần chuyển dịch từ trợ cấp vốn sang tư vấn kỹ thuật tận nơi, tận dụng mạng lưới đoàn thể xã hội để khuếch tán đổi mới và xây dựng cơ chế dán nhãn sản phẩm nhằm tạo động lực cho hộ nông dân thực hành kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường.
Từ khóa: Giảm thiểu khí nhà kính, nhận thức của nông hộ, hộ chăn nuôi
Abstract
The transition to low-emission agriculture depends on farm households adopting greenhouse gas (GHG) mitigation practices. A survey of 200 livestock-farming households in western Hai Phong City revealed a paradox: farmers were well aware of the consequences of climate change but had a limited understanding of greenhouse gases and of their responsibility for reducing GHG emissions. In practice, they prioritized simple measures to improve on-farm environmental conditions, namely biogas digesters and biological bedding, adopted by 65% and 56.5% of households, respectively. The main barriers to adoption were technical limitations and the lack of market signals through price differentiation for low-emission agricultural products. Therefore, support policies should shift from capital subsidies to on-site technical advice, leverage social organizations’ networks to disseminate innovations, and establish product-labeling mechanisms to incentivize farmers to adopt sustainable economic practices that support environmental protection.
Keywords: Greenhouse gas mitigation, farm household awareness, livestock-farming households
GIỚI THIỆU
Chăn nuôi là một nguồn phát thải khí nhà kính (KNK) đáng kể, chủ yếu là do khí CH₄ sinh ra từ quá trình lên men đường ruột của động vật nhai lại và quá trình lưu trữ chất thải, cùng với khí N₂O sinh ra từ lưu trữ chất thải và sử dụng phân bón. Khó có một biện pháp đơn lẻ nào bảo đảm được khả năng giảm phát thải toàn diện mà cần phải kết hợp nhiều giải pháp (Nguyễn Văn Quang, 2020). Tại Việt Nam, năm 2020, con số phát thải là hơn 30,84 triệu tấn CO2 tương đương và có xu hướng ngày càng tăng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020). Chăn nuôi cũng được xác định là lĩnh vực trọng điểm cần ưu tiên giảm phát thải theo Kế hoạch hành động giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Các nghiên cứu trong nước phần lớn đi theo hướng đo đạc hệ số phát thải và kiểm kê ở cấp cơ sở sản xuất (Hoàng Thị Huê, 2025; Nguyễn Thị Bích Hà và cộng sự, 2019). Trong khi đó, 85% số hộ được hỏi cho biết họ thiếu khả năng xử lý chất thải do thiếu đất, công nghệ và kinh phí (Tạ Quang Được, 2012). Đáng lưu ý, có công trình xử lý không đồng nghĩa với phát thải được kiểm soát: tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, 100% cơ sở chăn nuôi lợn ứng dụng biogas nhưng nước thải sau biogas vượt quy chuẩn từ 2,9-52,7 lần và thải trực tiếp ra kênh mương (Nguyễn Thị Bích Hà và cộng sự, 2019). Vì vậy, hộ chăn nuôi - chủ thể trực tiếp lựa chọn, đầu tư và vận hành biện pháp giảm thải - cần được đặt vào trung tâm phân tích.
Khu vực phía Tây TP. Hải Phòng (địa bàn tỉnh Hải Dương trước hợp nhất theo Nghị quyết số 202/2025/QH15), là vùng chăn nuôi truyền thống của Đồng bằng sông Hồng với tỷ trọng nông hộ lớn, song thực trạng ứng dụng các biện pháp giảm thiểu KNK ở cấp hộ chưa được phân tích một cách hệ thống. Bài viết nhằm mô tả thực trạng ứng dụng, phân tích tiêu chí lựa chọn và khó khăn của hộ chăn nuôi trong ứng dụng các biện pháp giảm thiểu KNK, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Trong chăn nuôi, 2 loại KNK chiếm tỷ trọng lớn là CH₄ và N₂O. Các biện pháp giảm thiểu được hệ thống hóa thành 3 nhóm là can thiệp vào lên men đường ruột, quản lý phân chuồng và quản lý động vật (Nguyễn Văn Quang, 2020). Tại Việt Nam, hiệu quả của một số biện pháp đã được kiểm chứng: biogas có thu hồi khí giúp giảm mạnh hệ số phát thải (Nguyễn Thị Thanh Thuận và cộng sự, 2017; Trần Sỹ Nam và cộng sự, 2021); sử dụng đệm lót sinh học cần thay thế sau 42 ngày (Nguyễn Thị Hiền, 2024); điều chỉnh khẩu phần ăn giúp giảm CH₄ và bài tiết nitơ (Nguyễn Văn Lanh và cộng sự, 2022; Nguyễn Văn Quang, 2025; Vũ Thị Khánh Vân và cộng sự, 2012). Trong điều kiện nông hộ, 4 biện pháp khả thi phổ biến là hầm biogas, đệm lót sinh học, ủ phân compost và thay đổi khẩu phần ăn (Hoàng Thị Huê, 2025).
Hiệu quả kỹ thuật của các biện pháp giảm thải không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc hộ có ứng dụng hay không. Theo Rogers (1983), việc ứng dụng phụ thuộc vào 5 thuộc tính bao gồm: lợi thế tương đối, tính tương thích, tính phức tạp, khả năng dùng thử và khả năng quan sát - giải thích được từ 49%-87% biến thiên trong tốc độ ứng dụng. Bổ sung cho cách tiếp cận này, Feder và cộng sự (1985) chỉ ra việc ứng dụng ở nông hộ các nước đang phát triển còn bị ràng buộc bởi hạn chế về tín dụng, hạn chế tiếp cận thông tin, e ngại rủi ro và hạn chế về vốn con người. Hai cách tiếp cận trên bổ sung cho nhau: Rogers giải thích vì sao hộ thấy một biện pháp hấp dẫn hay không, còn Feder và cộng sự giải thích vì sao hộ thấy hấp dẫn mà vẫn không thực hiện được.
Phương pháp nghiên cứu
Địa bàn và thu thập số liệu
Nghiên cứu được thực hiện tại 3 địa bàn thuộc khu vực phía Tây TP. Hải Phòng: Tứ Kỳ, Cẩm Giàng và Kim Thành (các địa danh cấp huyện trước khi sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp). Đây là những địa phương có chăn nuôi hộ phát triển, khác biệt về quy mô, cơ cấu vật nuôi cũng như mức độ tiếp cận kỹ thuật. Số liệu sơ cấp được thu thập năm 2025 bằng phiếu điều tra bán cấu trúc với 200 hộ chăn nuôi, phân bổ Tứ Kỳ 60 hộ, Cẩm Giàng 60 hộ và Kim Thành 80 hộ. Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ văn bản chính sách, báo cáo của cơ quan quản lý địa phương và các công trình đã công bố.
Thang đo
Nhóm câu hỏi về nhận thức sử dụng thang Likert 5 mức (1 - Rất không đồng ý đến 5 - Rất đồng ý). Tình trạng ứng dụng từng biện pháp được đo bằng thang nhị phân (có/không). Các câu hỏi về tiêu chí lựa chọn, lợi ích và khó khăn sử dụng thang định danh nhiều lựa chọn, do đó tổng tỷ lệ theo cột không bằng 100%.
Phân tích số liệu
Thống kê mô tả được sử dụng để khái quát đặc điểm mẫu và thực trạng ứng dụng (số lượng, tần suất, tỷ lệ % và giá trị trung bình); riêng các câu hỏi Likert được trình bày theo phân bố tần suất từng mức nhằm phản ánh mức độ phân hóa trong nhận thức. Thống kê so sánh được thực hiện giữa 3 địa bàn nhằm nhận diện khác biệt mang tính đặc thù địa phương và giữa các biện pháp trong cùng nhóm hộ nhằm xác định thứ tự ưu tiên trong lựa chọn của người chăn nuôi. Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm của hộ chăn nuôi
Trong 200 hộ điều tra, chủ hộ nam chiếm 62%; cơ cấu tuổi nghiêng mạnh về nhóm cao tuổi với 77,5% từ 50 đến dưới 70 tuổi và chỉ 2% dưới 40 tuổi. Gia cầm là loại vật nuôi phổ biến nhất (151/200 hộ, 75,5%), tiếp đến là lợn (78/200 hộ, 39%). Quy mô chăn nuôi lợn bình quân đạt 16,32 con/hộ/năm, phân hóa rõ giữa 3 địa bàn: Tứ Kỳ 6,38 con, Cẩm Giàng 11,69 con và Kim Thành 24,08 con.
Về liên kết tổ chức, chỉ 12,5% hộ tham gia hợp tác xã, trong khi tỷ lệ tham gia các đoàn thể xã hội ở mức cao (Hội Phụ nữ 65,5%). Hộ chăn nuôi ít gắn với tổ chức kinh tế nhưng gắn chặt với mạng lưới đoàn thể, cho thấy kênh truyền thông cá nhân có vai trò quan trọng trong thúc đẩy đổi mới và ứng dụng kỹ thuật.
Nhận thức của hộ về khí nhà kính
Kết quả khảo sát cho thấy các hộ chăn nuôi hiểu rất mờ nhạt về khái niệm KNK nhưng lại nhận thức khá tốt về hệ quả.
Bảng 1 cho thấy mức độ hiểu biết về thành phần KNK còn rất hạn chế: chỉ 81 hộ (40,5%) biết CO₂; 58 hộ (29%) biết CH₄ và 28 hộ (14%) biết N₂O, trong khi có tới 110 hộ (55%) không biết KNK gồm những khí nào. Tỷ lệ không biết ở Tứ Kỳ lên tới 81,7%, cao gần gấp đôi Cẩm Giàng (46,7%) và Kim Thành (41,8%).
Bảng 1: Nhận thức của hộ về thành phần khí nhà kính
|
Địa bàn |
Số hộ |
CO₂ (%) |
CH₄ (%) |
N₂O (%) |
Không biết (%) |
|---|---|---|---|---|---|
|
Tứ Kỳ |
60 |
15,0 |
15,0 |
5,0 |
81,7 |
|
Cẩm Giàng |
60 |
45,0 |
38,3 |
33,3 |
46,7 |
|
Kim Thành |
80 |
57,0 |
32,9 |
6,3 |
41,8 |
|
Chung |
200 |
40,5 |
29,0 |
14,0 |
55,0 |
Nguồn: Số liệu điều tra, 2025
Ngược lại, Bảng 2 cho thấy nhận thức về hệ quả tích cực hơn nhiều. Có 77,5% hộ đồng ý hoặc rất đồng ý rằng KNK gây biến đổi khí hậu và 78% cho rằng cần ứng dụng các biện pháp giảm thiểu. Tuy nhiên, mức độ chắc chắn giảm rõ rệt khi nhận định gắn với chính hoạt động của hộ, với tỷ lệ phân vân lên tới 29% về việc chăn nuôi có phát thải KNK và 34,5% về trách nhiệm giảm phát thải của bản thân. Khoảng cách này cho thấy nhiều hộ chấp nhận vấn đề nhưng chưa nhận diện được vai trò của mình trong đó, một hạn chế ở giai đoạn nhận biết của quá trình ra quyết định đổi mới.
Bảng 2: Nhận thức của hộ chăn nuôi về khí nhà kính và giảm thiểu khí nhà kính
|
Nhận định |
1: Rất không đồng ý |
2: Không đồng ý |
3: Phân vân |
4: Đồng ý |
5: Rất đồng ý |
|||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
|
|
Chăn nuôi phát thải KNK ra môi trường |
7 |
3,5 |
14 |
7,0 |
58 |
29,0 |
88 |
44,0 |
33 |
16,5 |
|
KNK gây ra biến đổi khí hậu |
6 |
3,0 |
6 |
3,0 |
33 |
16,5 |
127 |
63,5 |
28 |
14,0 |
|
Phát thải KNK gây thiệt hại cho hoạt động chăn nuôi |
6 |
3,0 |
4 |
2,0 |
62 |
31,0 |
108 |
54,0 |
20 |
10,0 |
|
Ứng dụng các biện pháp giảm thiểu KNK là cần thiết |
6 |
3,0 |
1 |
0,5 |
37 |
18,5 |
135 |
67,5 |
21 |
10,5 |
|
Hộ chăn nuôi có trách nhiệm giảm phát thải từ hoạt động của mình |
6 |
3,0 |
7 |
3,5 |
69 |
34,5 |
96 |
48,0 |
22 |
11,0 |
Nguồn: Số liệu điều tra, 2025
Mức độ ứng dụng các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính
Bảng 3 phản ánh rõ thứ tự ưu tiên của nông hộ: hầm biogas được dùng phổ biến nhất (65%), tiếp đến là đệm lót sinh học (56,5%), ủ phân compost (37,5%) và thấp nhất là thay đổi khẩu phần ăn (27%). Sự phân hóa giữa các địa bàn gắn liền với quy mô đàn: Kim Thành với quy mô đàn lớn có tỷ lệ dùng biogas cao nhất (77,5%), trong khi các hộ quy mô nhỏ tại Tứ Kỳ (sử dụng biogas 43,3%) có xu hướng chọn các giải pháp đơn giản hơn.
Bảng 3: Tỷ lệ hộ ứng dụng các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính (%)
|
Biện pháp |
Tứ Kỳ |
Cẩm Giàng |
Kim Thành |
Chung |
|---|---|---|---|---|
|
Hầm biogas |
43,3 |
70,0 |
77,5 |
65,0 |
|
Đệm lót sinh học |
35,0 |
65,0 |
66,3 |
56,5 |
|
Ủ phân compost |
33,3 |
45,0 |
35,0 |
37,5 |
|
Thay đổi khẩu phần ăn |
41,7 |
38,3 |
7,5 |
27,0 |
Nguồn: Số liệu điều tra, 2025
Lợi ích hộ nhận được khi ứng dụng các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính
Bảng 4: Lợi ích hộ nhận được khi ứng dụng biện pháp giảm thiểu khí nhà kính
|
Lợi ích |
Số hộ |
Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|
|
Bảo vệ môi trường chung |
165 |
82,5 |
|
Môi trường sản xuất được cải thiện |
157 |
78,5 |
|
Ít hại sức khỏe con người |
149 |
74,5 |
|
Giảm thiểu dịch bệnh cho vật nuôi |
135 |
67,5 |
|
Nâng cao chất lượng sản phẩm |
106 |
53,0 |
|
Tiết kiệm chi phí |
88 |
44,0 |
|
Đáp ứng yêu cầu thị trường |
80 |
40,0 |
|
Nâng cao năng suất |
77 |
38,5 |
|
Giá bán sản phẩm cao hơn |
56 |
28,0 |
Nguồn: Số liệu điều tra, 2025; câu hỏi nhiều lựa chọn
Bốn lợi ích được ghi nhận nhiều nhất đều thuộc nhóm môi trường và sức khỏe (67,5-82,5%), trong khi lợi ích kinh tế trực tiếp nhất là giá bán cao hơn chỉ được 28% hộ ghi nhận (Bảng 4). Điều này cho thấy động lực ứng dụng hiện nay chủ yếu đến từ cải thiện điều kiện sống và sản xuất tại chỗ, chứ không đến từ tín hiệu thị trường. Sản phẩm chăn nuôi giảm phát thải chưa được phân biệt về giá là một hạn chế then chốt đối với khả năng mở rộng.
Tiêu chí lựa chọn biện pháp giảm thiểu khí nhà kính
Kết quả Bảng 5 cho thấy thứ tự ưu tiên rất rõ của các hộ chăn nuôi. Ba tiêu chí đứng đầu gồm: Không phức tạp, dễ ứng dụng (84,5%); Phù hợp với nguồn vốn của hộ (73%); Phù hợp với trình độ lao động (65%), đều thuộc nhóm tính phức tạp và tính tương thích. Trong khi đó, 2 tiêu chí phản ánh lợi thế tương đối về kinh tế lại xếp cuối gồm: Chi phí sản xuất chỉ 29% và Năng suất, giá thành được cải thiện rõ rệt chỉ chiếm 22,5%.
Bảng 5: Tiêu chí hộ quan tâm khi lựa chọn biện pháp giảm thiểu khí nhà kính
|
Tiêu chí |
Số hộ |
Tỷ lệ (%) |
|---|---|---|
|
Không quá phức tạp, dễ ứng dụng |
169 |
84,5 |
|
Phù hợp với nguồn vốn của hộ |
146 |
73,0 |
|
Phù hợp với trình độ lao động |
130 |
65,0 |
|
Có thể ứng dụng trên quy mô nhỏ |
100 |
50,0 |
|
Phù hợp với điều kiện địa phương |
86 |
43,0 |
|
Chi phí ứng dụng thấp |
82 |
41,0 |
|
Chi phí sản xuất, lao động giảm |
58 |
29,0 |
|
Năng suất, giá thành được cải thiện rõ rệt |
45 |
22,5 |
Nguồn: Số liệu điều tra, 2025; câu hỏi nhiều lựa chọn
Nói cách khác, hộ chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu ưu tiên khả năng thực hiện hơn lợi ích thu được. Đây là phát hiện có ý nghĩa cả về lý thuyết lẫn chính sách, giải thích mức độ ứng dụng của các biện pháp giảm thiểu và cho thấy các chương trình hỗ trợ nếu chỉ chứng minh hiệu quả kinh tế của biện pháp sẽ khó tạo chuyển biến, chừng nào rào cản về độ phức tạp và mức độ tương thích chưa được tháo gỡ.
Khó khăn khi ứng dụng biện pháp giảm thiểu khí nhà kính
Rào cản lớn nhất được chỉ ra trong Bảng 6 là Thiếu kỹ năng, kỹ thuật và công nghệ (65,5%), vượt xa Thiếu vốn (53%) và Diện tích hạn chế (44%). Riêng tại Tứ Kỳ, tỷ lệ này lên tới 81,7%, trùng khớp với địa bàn có tỷ lệ hộ không biết về thành phần KNK cao nhất (81,7%) và tỷ lệ ứng dụng biogas thấp nhất (43,3%). Sự trùng khớp này củng cố nhận định rằng rào cản về thông tin và kỹ thuật, chứ không phải rào cản về tài chính, mới là nút thắt chính.
Bảng 6: Khó khăn hộ gặp phải khi ứng dụng biện pháp giảm thiểu khí nhà kính (%)
|
Khó khăn |
Tứ Kỳ |
Cẩm Giàng |
Kim Thành |
Chung |
|---|---|---|---|---|
|
Thiếu kỹ năng, kỹ thuật, công nghệ |
81,7 |
68,3 |
51,3 |
65,5 |
|
Thiếu vốn |
51,7 |
61,7 |
47,5 |
53,0 |
|
Diện tích hạn chế |
63,3 |
36,7 |
35,0 |
44,0 |
|
Giá bán không cao hơn sản phẩm thường |
30,0 |
51,7 |
43,8 |
42,0 |
|
Sản phẩm tiêu thụ không ổn định |
38,3 |
20,0 |
33,8 |
31,0 |
Nguồn: Số liệu điều tra, 2025; câu hỏi nhiều lựa chọn
Đáng chú ý, chỉ 10/200 hộ (5%) từng vay vốn phục vụ sản xuất và đầu tư biện pháp giảm phát thải, dù 53% khai báo thiếu vốn. Khoảng cách này cho thấy vấn đề không hoàn toàn nằm ở khả năng tiếp cận tín dụng mà còn ở mức độ sẵn sàng đầu tư.
Ngoài ra, 42% hộ nêu lý do giá bán không cao hơn sản phẩm thường và 31% lo ngại sản phẩm tiêu thụ không ổn định, cho thấy tín hiệu thị trường hiện gần như không tồn tại đối với sản phẩm chăn nuôi giảm phát thải.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Nghiên cứu chỉ ra một nghịch lý tại các nông hộ: Người dân nhận thức rõ hậu quả của biến đổi khí hậu (77,5%) nhưng lại mơ hồ về khái niệm KNK và trách nhiệm cá nhân trong việc giảm thiểu KNK. Trong thực tiễn, họ ưu tiên các biện pháp đơn giản, dễ ứng dụng như hầm biogas (65,0%) thay vì quan tâm đến hiệu quả kinh tế từ các kỹ thuật khó quan sát hiệu quả như cải tiến khẩu phần ăn (27%). Đáng chú ý, rào cản cốt lõi kìm hãm việc mở rộng ứng dụng không phải là thiếu vốn, mà là sự thiếu hụt về kỹ năng, kỹ thuật (65,5%) cùng với sự thiếu vắng động lực từ thị trường tiêu thụ.
Từ các phát hiện trên, chính sách hỗ trợ cần chuyển trọng tâm từ việc chỉ trợ cấp vốn sang công tác đào tạo, tư vấn kỹ thuật tại chỗ và xây dựng các mô hình trình diễn nhằm giảm bớt độ phức tạp của các giải pháp mới. Đồng thời, các địa phương nên tận dụng mạng lưới đoàn thể xã hội (như Hội Phụ nữ) làm kênh truyền thông cốt lõi để lan tỏa đổi mới. Về lâu dài, cần từng bước xây dựng cơ chế chứng nhận và dán nhãn nhằm phân biệt giá bán cho các sản phẩm giảm phát thải, qua đó tạo động lực tài chính bền vững cho người chăn nuôi.
(*) Lời cảm ơn: Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài mã số NN.07.HVNN.25-26 do UBND tỉnh Hải Dương nay là UBND TP. Hải Phòng là cơ quan chủ quản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện. Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn các đơn vị, cá nhân đã cấp kinh phí và hỗ trợ chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Vietnam Report on National GHG Inventory for 2016. https://unfccc.int/sites/default/files/resource/Viet%20Nam_NIR2016.pdf
2. Feder, Gershon, Just Richard, E. & Zilberman, David. (1985). Adoption of Agricultural Innovations in Developing Countries: A Survey. Economic Development and Cultural Change, 33(2), 255-298. https://doi.org/10.1086/451461,
3. Hoàng Thị Huê (2025). Đánh giá chi phí giảm phát thải KNK bằng công cụ MACC trong quản lý chất thải vật nuôi tại Hà Nội. Assessing Greenhouse Gas Emission Reduction Costs Using MACC in Livestock Waste Management in Hanoi, 96, 39-45.
4. Nguyễn Thị Bích Hà, Thân Thị Hà, Võ Hữu Công & Nguyễn Thanh Lâm (2019). Bước đầu nghiên cứu tính toán lượng phát thải khí CH4 từ chất thải chăn nuôi lợn ở các quy mô khác nhau trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 14, 75-84.
5. Nguyễn Thị Hiền (2024). Nghiên cứu mức độ phát thải KNK từ đệm lót sinh học được làm từ rơm và vỏ cây keo trong chăn nuôi bò thịt. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 16, 29-42.
6. Nguyễn Thị Thanh Thuận, Cao Thúy Anh, Nguyễn Thị Bảo Dung & Lê Quang Huy (2017). Đánh giá phát thải KNK từ chăn nuôi lợn tập trung tại Lâm Đồng. Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ, 2M.
7. Nguyễn Văn Lanh, Tất Tân Hy, Đinh Đức Tân, Nguyễn Thanh Hải, Ngô Hồng Phượng & Nguyễn Thị Mỹ Nhân (2022). Hiệu quả giảm phát thải khí mêtan in vitro với khẩu phần thức ăn chăn nuôi bò thịt qua các quy trình xử lý nhiệt. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 281, 84-89.
8. Nguyễn Văn Quang (2020). Nguồn phát thải KNK từ chăn nuôi và chiến lược giảm thiểu. Tạp chí Khoa học công nghệ chăn nuôi, 111, 2-12.
9. Nguyễn Văn Quang (2025). Sử dụng các chất có nguồn gốc thực vật tự nhiên để giảm bài tiết nitrogen và phát thải N2O từ động vật nhai lại. Tạp chí Khoa học công nghệ chăn nuôi, 149, 2-23.
10. Rogers, Everett M. (1983). Chapter 6. In Diffusion of Innovations (3rd ed.). The Free Press.
11. Tạ Quang Được (2012). Giảm khí phát thải, bảo vệ môi trường trong nuôi. Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, 17, 37-38.
12. Trần Sỹ Nam, Huỳnh Văn Thảo, Huỳnh Công Khánh, Huỳnh Thị Diễm, Đinh Thái Danh (2021). Xây dựng mô hình biogas xử lý chất thải chăn nuôi heo và cung cấp năng lượng tái tạo khí sinh học cho cộng đồng. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 3, 64-76.
13. Vũ Thị Khánh Vân, Trần Thị Bích Ngọc, Vũ Dương Quỳnh, Phạm Hùng Cường, Vũ Chí Cương, Lê Đình Phùng (2012). Phát thải khí ammonia, hydro sulfua và khí nhà kính từ chất thải của lợn sinh trưởng 15-35kg được ăn khẩu phần có mức protein thô và xơ thô khác nhau. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 12, 45-51.
|
Ngày nhận bài: 19/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026 |
Các tin khác
Quản lý tổ chức đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh - Nghiên cứu tại Sở Tài chính tỉnh Đồng Tháp
Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Hà Nội
Đề xuất mô hình nghiên cứu về cá nhân hóa dựa trên AI và lòng trung thành thương hiệu đa chiều đối với khóa học trực tuyến thương mại
Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã
Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Thực trạng phong cách lãnh đạo và kết quả đổi mới sáng tạo của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Mối quan hệ giữa đào tạo, hiệu quả công việc và bán hàng: Tổng quan từ trắc lượng thư mục
Phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030: Cơ sở lý luận, thực trạng và hàm ý chính sách cho Việt Nam