Tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến tiêu thụ năng lượng tái tạo: Bằng chứng từ dữ liệu bảng động 67 quốc gia

Nghiên cứu - Trao đổi 19:45 | 05/08/2026
Chuyển dịch sang năng lượng tái tạo là trụ cột của mục tiêu trung hòa carbon, song tiến độ giữa các quốc gia rất khác nhau và câu hỏi vì sao vẫn chưa có lời giải thống nhất.

Mai Thị Phương Thùy

Khoa Tài chính ngân hàng, Trường Đại học Văn Lang

Email: thuy.mtp@vlu.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ tiêu thụ năng lượng tái tạo, sử dụng dữ liệu bảng của 67 quốc gia giai đoạn 2000-2024 từ bộ chỉ báo phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới. Sử dụng phương pháp ước lượng mô-men tổng quát hệ thống (System GMM) 2 bước với sai số chuẩn vững, kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế tác động ngược chiều và tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người tác động thuận chiều tới tỷ lệ năng lượng tái tạo; trong khi phát triển tài chính, độ mở thương mại, đô thị hóa, tô tài nguyên và mức độ sử dụng internet không có ý nghĩa thống kê. Phát hiện này hàm ý chính sách năng lượng tái tạo cần được thiết kế theo chiều dài thập kỷ thay vì theo chu kỳ ngân sách.

Từ khóa: Năng lượng tái tạo, dữ liệu bảng động, System GMM, nội sinh

Abstract

This study investigates the determinants of the renewable energy consumption share using panel data from 67 countries over the period 2000-2024, obtained from the World Development Indicators (WDI) database of the World Bank. The analysis employs the two-step system generalized method of moments (System GMM) estimator with robust standard errors to address potential endogeneity and dynamic panel bias. The results indicate that economic growth has a negative effect on the share of renewable energy consumption, whereas per capita energy consumption has a positive effect. In contrast, financial development, trade openness, urbanization, natural resource rents, and internet usage are found to have no statistically significant impact. These findings suggest that renewable energy policies should be designed with a long-term strategic perspective spanning decades rather than being constrained by short-term budget cycles.

Keywords: Renewable energy, dynamic panel data, system GMM, endogeneity

GIỚI THIỆU

Chuyển dịch sang năng lượng tái tạo là trụ cột của mục tiêu trung hòa carbon, song tiến độ giữa các quốc gia rất khác nhau và câu hỏi vì sao vẫn chưa có lời giải thống nhất. Văn liệu hiện tại tập trung vào 3 nhóm yếu tố: kinh tế (tăng trưởng, phát triển tài chính, đầu tư), cơ cấu (đô thị hóa, công nghiệp hóa, độ mở thương mại) và công nghệ (đổi mới, hạ tầng số). Tuy vậy, kết quả thực nghiệm phân kỳ đáng kể, ngay cả về dấu của hệ số.

Nghiên cứu này đóng góp ở 2 điểm. Thứ nhất, mẫu 67 quốc gia thuộc 3 khu vực với trình độ phát triển rất khác nhau cho phép ước lượng trên nền biến thiên rộng hơn phần lớn các nghiên cứu vốn giới hạn ở một khu vực. Thứ hai, nghiên cứu xử lý một đặc điểm mà nhiều công trình bỏ qua: cơ cấu năng lượng là biến có quán tính rất lớn. Hạ tầng năng lượng có vòng đời hàng chục năm, nên tỷ lệ tái tạo năm nay gần như được quyết định bởi chính nó năm trước. Bỏ qua đặc điểm này bằng cách ước lượng mô hình tĩnh sẽ dẫn tới quy gán sai: phần ảnh hưởng vốn thuộc về quán tính hệ thống bị gán nhầm cho các biến kinh tế. Vì vậy nghiên cứu sử dụng mô hình bảng động với ước lượng System GMM, vốn đồng thời xử lý được quán tính và vấn đề nội sinh.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tăng trưởng kinh tế - Quan hệ giữa thu nhập và năng lượng tái tạo không đơn điệu

Qua phương pháp trung bình mô hình Bayes trên mẫu toàn cầu, Osińska và cộng sự (2024) xác định phát thải CO2 bình quân đầu người, điều kiện thương mại, GDP và FDI là những yếu tố chi phối mạnh nhất, song dấu của GDP đổi chiều giữa các nhóm quốc gia phân theo trình độ phát triển. Feng và Zhao (2022) dùng mô hình ngưỡng và tìm thấy quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng và năng lượng tái tạo. Điều này lý giải vì sao các nghiên cứu tuyến tính cho kết quả trái ngược nhau: chúng đang ước lượng những đoạn khác nhau của cùng một quan hệ cong.

Cơ cấu kinh tế - xã hội

Nghiên cứu của Su và cộng sự (2022), trên 116 quốc gia giai đoạn 2000-2014 với mô hình ngưỡng bảng, cho thấy đô thị hóa thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo bình quân đầu người trong khi công nghiệp hóa kìm hãm, và cả 2 hiệu ứng đều phi tuyến với ngưỡng có ý nghĩa ở mức 1%. Nghiên cứu của Wiredu và cộng sự (2025) tại các nền kinh tế NAFTA; Wang và cộng sự (2025) trên 122 quốc gia đều xác nhận độ mở thương mại có tác động khác nhau theo nhóm thu nhập - bằng chứng cho thấy tính không đồng nhất giữa các quốc gia là đặc điểm cố hữu của lĩnh vực này.

Phát triển tài chính và tài nguyên

Ergun và cộng sự (2019) tại châu Phi và Lawal (2023) - cũng dùng System GMM - cho thấy phát triển tài chính hỗ trợ chuyển dịch năng lượng ở các nền kinh tế thu nhập cao nhưng không có ý nghĩa ở nhóm thu nhập thấp, đồng thời xác nhận giả thuyết phản hồi giữa tăng trưởng và năng lượng tái tạo. Chính kết quả sau là căn cứ thực nghiệm cho việc xử lý nội sinh trong nghiên cứu này.

Phần lớn các công trình trên hoặc dùng mô hình tĩnh, hoặc dùng mô hình động nhưng không báo cáo đầy đủ kiểm định tính hợp lệ của biến công cụ. Nghiên cứu này bổ khuyết bằng mô hình bảng động có kiểm định đầy đủ; đồng thời làm rõ vai trò của quán tính hệ thống - yếu tố hiếm khi được thảo luận tường minh.

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguồn và đặc điểm dữ liệu

Dữ liệu trích từ bộ Chỉ báo Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới, gồm 1.675 quan sát của 67 quốc gia giai đoạn 2000-2024, thuộc 3 khu vực: châu Á đang phát triển (24 quốc gia), châu Âu (22) và châu Mỹ (21). Tỷ lệ năng lượng tái tạo trung bình khác biệt rõ giữa 3 nhóm - lần lượt 25,70%; 19,94% và 29,86% - cho thấy tính không đồng nhất theo khu vực.

Dữ liệu là bảng không cân bằng: tỷ lệ khuyết dao động từ 0% (Đô thị hóa - URBAN) tới 13,2% (Tô tài nguyên thiên nhiên - RESRENT), với Năng lượng tái tạo (RENEW) khuyết 11,9% và Tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân (FIN) khuyết 11,6%. Sau khi loại các quan sát khuyết ở bất kỳ biến nào, mẫu ước lượng còn 1.207 quan sát của 62 quốc gia giai đoạn 2000-2021, số quan sát mỗi quốc gia từ 9 đến 22. Giai đoạn thu hẹp về 2021 do các chỉ báo năng lượng chưa cập nhật tới 2024.

Một đặc điểm mô tả đáng chú ý: tỷ lệ năng lượng tái tạo trung bình toàn mẫu gần như không đổi trong hơn 2 thập kỷ - 26,00% năm 2000 và 25,58% năm 2021. Đồng thời, hệ số tương quan giữa RENEW và giá trị trễ một năm của chính nó đạt 0,9966. Hai con số này cùng chỉ về một kết luận: cơ cấu năng lượng thay đổi cực kỳ chậm và bất kỳ mô hình nào bỏ qua biến trễ đều có nguy cơ quy gán sai.

Bảng 1: Biến nghiên cứu và mã chỉ tiêu WDI

Biến

Vai trò

Định nghĩa / đo lường

Mã WDI

RENEW

Phụ thuộc

Năng lượng tái tạo (% tiêu thụ cuối cùng)

EG.FEC.RNEW.ZS

GDPGR

Độc lập

Tăng trưởng GDP (%/năm)

NY.GDP.MKTP.KD.ZG

FIN

Độc lập

Tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân (% GDP)

FS.AST.PRVT.GD.ZS

TRADE

Độc lập

Độ mở thương mại (% GDP)

NE.TRD.GNFS.ZS

URBAN

Độc lập

Đô thị hóa (% dân số)

SP.URB.TOTL.IN.ZS

RESRENT

Độc lập

Tô tài nguyên thiên nhiên (% GDP)

NY.GDP.TOTL.RT.ZS

INTERNET

Độc lập

Tỷ lệ dùng internet (% dân số)

IT.NET.USER.ZS

ENERGY

Độc lập

Sử dụng năng lượng bình quân đầu người (kg dầu quy đổi)

EG.USE.PCAP.KG.OE

Nguồn: World Development Indicators

Mô hình và phương pháp ước lượng

Mô hình bảng động có dạng:

RENEW(i,t) = α·RENEW(i,t-1) + β′X(i,t) + μ(i) + ε(i,t)

Trong đó, X là véc-tơ 7 biến giải thích và μ(i) là tác động cố định quốc gia.

Sự hiện diện của biến trễ khiến ước lượng OLS và tác động cố định đều bị chệch. Nghiên cứu sử dụng System GMM hai bước (Blundell và Bond, 1998) với sai số chuẩn vững, trong đó biến trễ của biến phụ thuộc và biến ENERGY được xử lý như nội sinh - dùng độ trễ từ bậc hai trở đi làm biến công cụ - còn 6 biến còn lại được coi là ngoại sinh. Tùy chọn `collapse` được áp dụng nhằm hạn chế tràn biến công cụ, theo khuyến nghị của Roodman (2009) rằng số biến công cụ không nên vượt số đơn vị chéo.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Thống kê mô tả

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến

Biến

Số quan sát

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Nhỏ nhất

Lớn nhất

RENEW

1.476

25,115

20,384

0,000

85,800

GDPGR

1.673

3,425

5,084

-36,657

58,078

FIN

1.480

66,720

49,577

1,267

301,019

TRADE

1.568

83,852

50,467

19,560

437,327

URBAN

1.675

65,852

20,288

18,558

100,000

RESRENT

1.454

4,701

9,539

0,000

79,431

INTERNET

1.647

47,848

31,618

0,000

100,000

ENERGY

1.570

2.619,166

3.080,805

60,414

21.557,480

Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu WDI

Bảng 2 cho thấy biến RENEW có độ phân tán rất rộng, từ 0% tới 85,8% với độ lệch chuẩn 20,4 - đủ biến thiên cho phân tích hồi quy. ENERGY có biên độ lớn nhất, phản ánh chênh lệch trình độ phát triển trong mẫu.

Ma trận tương quan

Bảng 3: Ma trận hệ số tương quan

RENEW

GDPGR

FIN

TRADE

URBAN

RESRENT

INTERNET

ENERGY

RENEW

1,0000

GDPGR

0,0619

1,0000

FIN

-0,2353

-0,2150

1,0000

TRADE

-0,1696

0,0948

0,1518

1,0000

URBAN

-0,4441

-0,2203

0,3147

0,1163

1,0000

RESRENT

-0,2407

0,2768

-0,2763

-0,0355

0,0958

1,0000

INTERNET

-0,2370

-0,2953

0,5612

0,1780

0,5522

-0,2206

1,0000

ENERGY

-0,1550

-0,0155

0,3254

0,1383

0,5080

0,2456

0,4367

1,0000

Nguồn: Tính toán của tác giả

Bảng 3 chỉ ra rằng không cặp biến giải thích nào có hệ số tương quan vượt 0,6; cao nhất là cặp biến INTERNET-FIN (0,5612) và INTERNET-URBAN (0,5522). Đa cộng tuyến vì vậy không phải mối lo ngại. Đáng chú ý, tương quan đơn giữa biến RENEW và URBAN là mạnh nhất, đạt 0,4441. Tuy nhiên, kết quả hồi quy cho thấy, quan hệ này biến mất khi kiểm soát quán tính hệ thống và tác động cố định quốc gia.

Kết quả ước lượng System GMM

Bảng 4: Kết quả ước lượng System GMM 2 bước, sai số chuẩn vững

Biến

Hệ số

Sai số chuẩn

z

P>|z|

[95% conf.

interval]

RENEW (t-1)

1,02701

0,02913

35,26

0,000

0,96991

1,08410

GDPGR

-0,09951

0,02372

-4,20

0,000

-0,14599

-0,05302

FIN

-0,00069

0,00288

-0,24

0,812

-0,00632

0,00495

TRADE

0,00047

0,00195

0,24

0,810

-0,00336

0,00430

URBAN

0,00843

0,01584

0,53

0,595

-0,02261

0,03947

RESRENT

-0,00482

0,02475

-0,19

0,846

-0,05333

0,04369

INTERNET

-0,00165

0,00387

-0,43

0,670

-0,00922

0,00593

ENERGY

0,00027

0,00012

2,37

0,018

0,00005

0,00050

Hằng số

-1,38776

1,92237

-0,72

0,470

-5,15552

2,38001

Chú thích: Ước lượng bằng xtabond2 hai bước, sai số chuẩn vững; biến công cụ dạng GMM cho RENEW(t-1) và ENERGY với độ trễ từ bậc hai, tùy chọn collapse.

Nguồn: Tính toán của tác giả

Quán tính là yếu tố chi phối

Hệ số của biến trễ đạt 1,027 với thống kê z = 35,26 - lớn hơn mọi hệ số khác trong mô hình nhiều bậc độ lớn. Kết quả này nhất quán với thống kê mô tả: tương quan giữa RENEW và giá trị trễ của nó là 0,9966, và tỷ lệ tái tạo trung bình toàn cầu gần như đứng yên suốt 2000-2021. Về mặt kinh tế, phát hiện có ý nghĩa rõ ràng: nhà máy điện, lưới truyền tải và hạ tầng năng lượng có vòng đời nhiều thập kỷ, nên cơ cấu năng lượng của một quốc gia hôm nay chủ yếu là di sản của các quyết định đầu tư trong quá khứ chứ không phải phản ứng với điều kiện kinh tế hiện tại.

Tăng trưởng kinh tế tác động ngược chiều

GDPGR có hệ số -0,0995 (p < 0,01): tăng trưởng nhanh hơn 1 điểm phần trăm gắn với tỷ lệ tái tạo thấp hơn khoảng 0,1 điểm phần trăm. Cơ chế hợp lý là tăng trưởng làm nhu cầu năng lượng tăng nhanh hơn tốc độ mà công suất tái tạo có thể được bổ sung, nên phần tăng thêm được đáp ứng bằng nguồn hóa thạch vốn triển khai nhanh hơn. Kết quả phù hợp với Osińska và cộng sự (2024) khi các tác giả này cũng ghi nhận quan hệ nghịch giữa GDP và tỷ lệ tái tạo ở một số nhóm quốc gia, và với phát hiện phi tuyến của Feng và Zhao (2022).

Tiêu thụ năng lượng đầu người tác động thuận chiều (0,00027, p < 0,05). Dù độ lớn nhỏ, dấu dương hàm ý các quốc gia tiêu thụ nhiều năng lượng hơn - thường là nước phát triển - có tỷ lệ tái tạo cao hơn, phản ánh năng lực tài chính và công nghệ để đầu tư hạ tầng tái tạo.

Năm biến còn lại không có ý nghĩa thống kê (p 0,595-0,846) là kết quả đáng lưu ý. Đặc biệt, với URBAN: tương quan đơn của biến này với RENEW là -0,4441, mạnh nhất bảng, nhưng hệ số hồi quy chỉ 0,0084 và hoàn toàn không có ý nghĩa. Chênh lệch này cho thấy tương quan đơn phản ánh khác biệt giữa các quốc gia - nước đô thị hóa cao vốn có cơ cấu năng lượng khác - chứ không phải tác động của thay đổi đô thị hóa trong một quốc gia theo thời gian. Kết quả này cũng cho thấy giới hạn của việc so sánh với Su và cộng sự (2022): Các tác giả tìm thấy đô thị hóa thúc đẩy tiêu thụ năng lượng tái tạo, song đó là quan hệ phi tuyến có ngưỡng, trong khi mô hình tuyến tính ở đây chỉ ước lượng một hệ số trung bình duy nhất.

KẾT LUẬN

Trên dữ liệu bảng 67 quốc gia giai đoạn 2000-2024, nghiên cứu tìm thấy chỉ 2 trong 7 yếu tố kinh tế có tác động có ý nghĩa tới tỷ lệ tiêu thụ năng lượng tái tạo: tăng trưởng kinh tế (ngược chiều) và tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người (thuận chiều). Phát hiện trung tâm lại nằm ở biến trễ: với hệ số 1,027 và tương quan tự thân 0,9966, cơ cấu năng lượng bộc lộ quán tính gần như tuyệt đối.

Có thể thấy, vì tỷ lệ năng lượng tái tạo được quyết định chủ yếu bởi trạng thái của chính nó năm trước, các biện pháp kinh tế ngắn hạn khó tạo chuyển biến nhanh; điều có tác dụng là những quyết định đầu tư hạ tầng có hiệu lực kéo dài hàng thập kỷ. Kết quả GDPGR âm còn hàm ý một cảnh báo: nếu tăng trưởng không đi kèm mở rộng công suất năng lượng tái tạo tương ứng, chính tăng trưởng sẽ làm tỷ lệ năng lượng tái tạo giảm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo: Khoảng tin cậy của hệ số biến trễ, [0,970; 1,084], chứa giá trị đơn vị. Điều này có nghĩa không thể bác bỏ giả thuyết chuỗi RENEW có nghiệm đơn vị, và do đó các tác động dài hạn không được nhận dạng trong khuôn khổ mô hình hiện tại. Nghiên cứu tiếp theo cần kiểm định nghiệm đơn vị dữ liệu bảng có tính tới phụ thuộc chéo (Pesaran, 2007), kiểm định đồng liên kết và cân nhắc ước lượng Difference GMM hoặc mô hình hiệu chỉnh sai số dạng bảng vốn không đòi hỏi giả định dừng cho phương trình mức. Ngoài ra, bằng chứng phi tuyến của Su và cộng sự (2022) cùng Feng và Zhao (2022) gợi ý mô hình ngưỡng có thể phù hợp hơn; và tính không đồng nhất giữa 3 khu vực trong mẫu theo các ước lượng riêng theo nhóm.

Tài liệu tham khảo:

1. Blundell, R., & Bond, S. (1998). Initial conditions and moment restrictions in dynamic panel data models. Journal of econometrics, 87(1), 115-143.

2. Ergun, S. J., Owusu, P. A., & Rivas, M. F. (2019). Determinants of renewable energy consumption in Africa. Environmental Science and Pollution Research, 26(15), 15390-15405.

3. Feng, Y., & Zhao, T. (2022). Exploring the nonlinear relationship between renewable energy consumption and economic growth in the context of global climate change. International Journal of Environmental Research and Public Health, 19(23), 15647.

4. Lawal, A. I. (2023). Determinants of renewable energy consumption in Africa: Evidence from system GMM. Energies, 16(5), 2136.

5. Osińska, M., Khan, A. M., & Kwiatkowski, J. (2024). Identifying economic factors of renewable energy consumption-A global perspective. Energies, 17(15), 3715.

6. Pesaran, M. H. (2007). A simple panel unit root test in the presence of cross‐section dependence. Journal of applied econometrics, 22(2), 265-312.

7. Roodman, D. (2009). How to do xtabond2: An introduction to difference and system GMM in Stata. The stata journal, 9(1), 86-136.

8. Su, M., Wang, Q., Li, R., & Wang, L. (2022). Per capita renewable energy consumption in 116 countries: The effects of urbanization, industrialization, GDP, aging, and trade openness. Energy, 254, 124289.

9. Wang, Q., Li, C., & Li, R. (2025). How does renewable energy consumption and trade openness affect economic growth and carbon emissions? International evidence of 122 countries. Energy & Environment, 36(1), 187-211.

10. Wiredu, J., Yang, Q., Sampene, A. K., & Saljoughipour, S. (2025). Economic advancement and renewable energy transition: Exploring the integral role of trade openness, digital transition, and urbanization among the NAFTA economies. Journal of the Knowledge Economy, 16(5), 15785-15822.

Ngày nhận bài: 17/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/7/2026; Ngày duyệt đăng: 5/8/2026

Các tin khác

Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam

Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam

Các hệ thống tự động ngày càng có khả năng thực hiện các hoạt động tạo ra hệ quả pháp lý với mức độ can thiệp của con người thấp hơn, từ đó đặt ra những vấn đề mới đối với pháp luật hợp đồng, đặc biệt là việc công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi của hệ thống tự động.
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Theo báo cáo thực tiễn, 93% SME tại Việt Nam đã tiếp cận hoặc sử dụng ít nhất một công cụ AI trong hoạt động kinh doanh, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về mức độ phổ cập AI ban đầu.
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam

Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam

Khung chuyển đổi chi phí kế toán quản trị thành mô hình QUBO cho thấy tối ưu hóa phân bổ hàng hóa F&B phụ thuộc nhiều vào năng lực mô hình hóa dữ liệu hơn phần cứng lượng tử, khi các phương pháp cổ điển như MILP vẫn vượt trội về tốc độ và khả năng mở rộng.
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Sau cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 tại COP26 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, chuyển đổi xanh đã trở thành định hướng chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế

Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế

Bằng cách thúc đẩy đổi mới và hiệu quả trong sử dụng tài nguyên sinh học (động vật, thực vật, vi sinh vật), kinh tế sinh học đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững và nâng cao phúc lợi kinh tế - xã hội và lợi ích môi trường.
Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách

Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách

Động lực tăng trưởng của Việt Nam đang chuyển dịch theo hướng gia tăng vai trò của năng suất, chất lượng lao động và đổi mới. AI có thể hỗ trợ chuyển đổi động lực tăng trưởng thông qua nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động và tri thức.
Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan

Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan

Nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong quản lý, xử lý tài sản tịch thu thuộc lĩnh vực hải quan, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, quy trình thực hiện, cơ chế phối hợp và quản lý dữ liệu nhằm giảm chi phí phát sinh, hạn chế tồn đọng và nâng cao hiệu quả xử lý tài sản.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hải quan tại các khu thương mại tự do ở Việt Nam

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hải quan tại các khu thương mại tự do ở Việt Nam

Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh, nghiên cứu trường hợp và thống kê mô tả, bài viết đánh giá thực tiễn quản lý hải quan tại các mô hình FTZ, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, chuyển đổi số và phối hợp liên ngành.
Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Năm 2025, quy mô thị trường tiếp thị qua người có sức ảnh hưởng toàn cầu đạt 32,55 tỷ USD, trong khi doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội đạt 266,92 tỷ USD. Sự phát triển này thúc đẩy các nghiên cứu về hiệu quả tiếp thị của người có sức ảnh hưởng, đặc biệt là những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực môi trường và tiêu dùng bền vững.
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam

Trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành có mức độ chuyển đổi số cao như Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ học tập mà còn là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động.