Phát triển tài chính xanh ở Việt Nam: Thực trạng, rào cản và hàm ý chính sách trong bối cảnh chuyển đổi xanh
TS. Trần Văn Hiếu
Đại học Cần Thơ; Email: [email protected]
Lê Thị Thuỳ Dương
Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Bài viết đánh giá thực trạng phát triển tài chính xanh ở Việt Nam, tập trung vào khung chính sách, tín dụng xanh và thị trường vốn xanh. Kết quả phân tích cho thấy, khuôn khổ chính sách từng bước được hoàn thiện, quy mô tín dụng xanh tăng trưởng tương đối nhanh và các công cụ huy động vốn bền vững đã bước đầu hình thành. Tuy nhiên, tài chính xanh vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh; nguồn vốn phụ thuộc đáng kể vào tín dụng ngân hàng, thị trường trái phiếu xanh còn hạn chế, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp chưa đồng đều và hệ thống dữ liệu, đánh giá tác động môi trường chưa hoàn thiện. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện hệ thống tài chính xanh, góp phần huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Từ khóa: Tài chính xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, tăng trưởng xanh, Việt Nam
Abstract
This article assesses the current state of green finance development in Viet Nam, focusing on the policy framework, green credit, and green capital markets. The analysis shows that the policy framework has been gradually strengthened, green credit has grown relatively rapidly, and sustainable financing instruments have begun to emerge. However, green finance has yet to meet the capital needs of the green transition fully. Funding remains heavily dependent on bank credit, the green bond market remains limited, enterprises have unequal access to financing, and systems for environmental data and impact assessment remain underdeveloped. On this basis, the article proposes several policy implications to strengthen the green financial system, mobilize resources for green growth, and achieve the net-zero emissions target by 2050.
Keywords: Green finance, green credit, green bonds, green growth, Viet Nam
GIỚI THIỆU
Biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững đang đặt ra nhu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và phát thải thấp. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), Việt Nam cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 và tiếp tục khẳng định định hướng này trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nền kinh tế cần huy động nguồn lực đáng kể cho phát triển năng lượng tái tạo, đổi mới công nghệ, xây dựng hạ tầng xanh, cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng và thích ứng với biến đổi khí hậu (World Bank, 2022).
Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách nhà nước còn hạn chế so với nhu cầu đầu tư, tài chính xanh trở thành một trong những công cụ quan trọng nhằm huy động và định hướng dòng vốn từ khu vực công, hệ thống ngân hàng, thị trường vốn và các nhà đầu tư tư nhân vào những hoạt động tạo ra lợi ích môi trường. Thông qua tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và các công cụ tài chính bền vững, tài chính xanh không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn cho chuyển đổi công nghệ mà còn góp phần lồng ghép các tiêu chí môi trường vào quyết định đầu tư và phân bổ vốn.
Những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khuôn khổ chính sách liên quan đến tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và huy động nguồn vốn bền vững. Quy mô tín dụng xanh tăng trưởng tương đối nhanh, trong khi trái phiếu xanh và các công cụ tài chính bền vững bắt đầu được triển khai. Tuy nhiên, sự mở rộng về quy mô chưa đồng nghĩa với việc hệ thống tài chính xanh đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn của nền kinh tế. Thị trường vốn xanh còn hạn chế, doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn, còn hệ thống dữ liệu và đánh giá tác động môi trường chưa hoàn thiện.
Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để chuyển từ việc hình thành các chính sách và công cụ tài chính xanh sang cơ chế huy động, phân bổ và giám sát vốn hiệu quả, bảo đảm nguồn lực thực sự tạo ra kết quả môi trường có thể đo lường. Việc làm rõ các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hoàn thiện chính sách tài chính xanh tại Việt Nam.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH XANH Ở VIỆT NAM
Kết quả đạt được
Khung chính sách và thể chế phát triển tài chính xanh từng bước được hoàn thiện
Những năm gần đây, Việt Nam từng bước hoàn thiện khung chính sách phát triển tài chính xanh nhằm huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Về định hướng, Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định chuyển đổi xanh là một trong những động lực quan trọng của phát triển nhanh và bền vững, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Về thể chế, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt nền tảng pháp lý cho phát triển tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các công cụ tài chính phục vụ bảo vệ môi trường. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về Danh mục phân loại xanh tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, lần đầu tiên thiết lập bộ tiêu chí thống nhất để xác định các dự án đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn xanh, góp phần nâng cao tính minh bạch và hạn chế hiện tượng “greenwashing”. Đặc biệt, việc thiết lập tiêu chí xác định dự án xanh góp phần tạo cơ sở chung cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nhận diện dự án đủ điều kiện về môi trường, nâng cao tính minh bạch và hạn chế nguy cơ gắn nhãn xanh không có căn cứ. Đây là tiền đề quan trọng để từng bước hình thành thị trường tài chính xanh có định hướng và tiêu chuẩn rõ ràng hơn.
Tín dụng xanh tăng trưởng tương đối nhanh, khẳng định vai trò của hệ thống ngân hàng trong cung ứng vốn cho chuyển đổi xanh
Giai đoạn 2017-2025, tín dụng xanh duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Đến tháng 3/2025, có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh với quy mô khoảng 704,2 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế; đến cuối năm 2025, dư nợ ước đạt khoảng 750 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo và năng lượng sạch (trên 37%) và nông nghiệp xanh (khoảng 29%), cho thấy dòng vốn đang được ưu tiên cho các lĩnh vực có khả năng giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu (M. H, 2025). Hệ thống ngân hàng hiện vẫn là kênh cung ứng vốn xanh chủ yếu, chiếm khoảng 88% tổng dư nợ tín dụng xanh.
Bên cạnh việc mở rộng quy mô tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng tăng cường quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế xây dựng và phổ biến Sổ tay hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng năm 2025 đã hỗ trợ các tổ chức tín dụng chuẩn hóa quy trình thẩm định và giám sát các khoản vay theo tiêu chuẩn ESG, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng xanh và tiệm cận thông lệ quốc tế.
Thị trường trái phiếu xanh và các công cụ huy động vốn bền vững bước đầu được hình thành và mở rộng
Bên cạnh tín dụng ngân hàng, trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội, trái phiếu bền vững và trái phiếu gắn với mục tiêu bền vững đã mở ra khả năng huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án năng lượng, hạ tầng và môi trường. Theo Vietnam Bond Market Association (2025), tổng giá trị phát hành các công cụ thuộc nhóm trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và trái phiếu gắn với mục tiêu bền vững đạt khoảng 11.075 tỷ đồng trong năm 2024. Sự tham gia của một số tổ chức tài chính và doanh nghiệp cho thấy chủ thể huy động vốn đã từng bước đa dạng hóa, tạo cơ sở mở rộng các kênh tài trợ ngoài tín dụng ngân hàng. Đồng thời, việc tiếp cận các nguyên tắc phát hành trái phiếu bền vững của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA) và sự hoàn thiện của khung phân loại xanh góp phần thúc đẩy minh bạch thông tin, nâng cao khả năng nhận diện sản phẩm tài chính xanh và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Nhận thức về quản trị rủi ro môi trường - xã hội và trách nhiệm minh bạch thông tin trong hoạt động tài chính được nâng lên
Các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp ngày càng quan tâm hơn đến yếu tố môi trường trong quá trình thẩm định, cấp vốn và triển khai dự án. Việc từng bước áp dụng các quy trình quản lý rủi ro môi trường – xã hội giúp mở rộng nội dung đánh giá từ khả năng trả nợ, tài sản bảo đảm sang những rủi ro có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của dự án. Đồng thời, yêu cầu về công bố thông tin và báo cáo phát triển bền vững tạo động lực để doanh nghiệp cải thiện hệ thống quản trị, theo dõi việc sử dụng tài nguyên và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đây là điều kiện cần thiết để giảm bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp, tổ chức tài chính và nhà đầu tư, qua đó hỗ trợ quá trình phân bổ vốn theo các tiêu chí môi trường.
Tài chính xanh bước đầu tạo điều kiện kết nối mục tiêu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường
Việc mở rộng nguồn vốn cho năng lượng sạch, nông nghiệp xanh, xử lý chất thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên góp phần tạo thêm nguồn lực cho đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và cải thiện năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp. Về phương diện huy động vốn, sự phát triển của tín dụng xanh và các công cụ tài chính bền vững tạo thêm cơ hội thu hút nguồn lực tư nhân, giảm sự phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước và tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn quốc tế. Tuy nhiên, những đóng góp này trước hết phản ánh tiềm năng và định hướng sử dụng vốn; mức độ tác động thực tế đến giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và cải thiện chất lượng môi trường cần được đánh giá bằng các chỉ tiêu đầu ra và kết quả cụ thể.
Hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu, song phát triển tài chính xanh ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với nhu cầu vốn cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thứ nhất, quy mô nguồn vốn xanh còn hạn chế so với tổng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế
Mặc dù tín dụng xanh có tốc độ tăng trưởng nhanh, song đến tháng 3/2025, dư nợ tín dụng xanh mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025). Điều này cho thấy tín dụng xanh đã mở rộng nhưng chưa trở thành một kênh phân bổ vốn có quy mô đủ lớn để tạo chuyển biến căn bản trong cơ cấu tài trợ của nền kinh tế. Nguyên nhân là do nhu cầu đầu tư cho chuyển đổi xanh rất lớn, trong khi nhiều dự án đòi hỏi vốn ban đầu cao, thời gian hoàn vốn dài và phụ thuộc vào các điều kiện chính sách, công nghệ cũng như diễn biến thị trường. Bên cạnh đó, các cơ chế ưu đãi, bảo lãnh và chia sẻ rủi ro chưa đủ mạnh để khuyến khích các tổ chức tài chính mở rộng đáng kể nguồn vốn cho những dự án có tính đổi mới cao hoặc mức độ bất định lớn. Vì vậy, khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư và khả năng huy động, phân bổ vốn xanh vẫn là một thách thức đáng kể.
Thứ hai, cơ cấu tài chính xanh còn phụ thuộc đáng kể vào tín dụng ngân hàng, trong khi thị trường vốn xanh phát triển chưa tương xứng
Tín dụng ngân hàng có ưu thế về khả năng tiếp cận khách hàng và phân bổ vốn, nhưng việc dựa chủ yếu vào kênh này có thể tạo áp lực lên bảng cân đối tài sản của ngân hàng và hạn chế khả năng cung ứng nguồn vốn dài hạn cho các dự án có thời gian thu hồi vốn kéo dài. Trong khi đó, thị trường trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và các công cụ tài chính hỗ trợ chuyển đổi vẫn có quy mô tương đối nhỏ. Nguyên nhân là số lượng tổ chức phát hành đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quy mô, năng lực quản trị và minh bạch thông tin còn hạn chế, cơ sở nhà đầu tư dài hạn chưa đủ rộng; đồng thời, chi phí xây dựng khung phát hành, đánh giá độc lập và báo cáo tác động môi trường có thể làm giảm tính hấp dẫn về chi phí của công cụ tài chính xanh. Những yếu tố này khiến thị trường vốn chưa phát huy đầy đủ vai trò kết nối các nguồn tiết kiệm dài hạn với nhu cầu đầu tư xanh.
Thứ ba, khả năng tiếp cận tài chính xanh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn gặp nhiều khó khăn
Một bộ phận doanh nghiệp chưa có đủ năng lực tài chính, hồ sơ dự án, dữ liệu môi trường và hệ thống quản trị để đáp ứng yêu cầu thẩm định của tổ chức cho vay hoặc nhà đầu tư. Các dự án xanh thường đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn, công nghệ chuyên biệt và thời gian thu hồi vốn dài; trong khi đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu tài sản bảo đảm, khó chứng minh hiệu quả tài chính dài hạn và có khả năng chịu đựng rủi ro thấp hơn doanh nghiệp lớn. Nguyên nhân không chỉ nằm ở yêu cầu thận trọng của các tổ chức tín dụng mà còn xuất phát từ sự thiếu hụt các công cụ bảo lãnh tín dụng, cơ chế chia sẻ rủi ro và dịch vụ hỗ trợ chuẩn bị dự án xanh. Nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp, nguồn vốn xanh có nguy cơ tập trung vào những doanh nghiệp lớn có năng lực tài chính tốt, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa - một bộ phận quan trọng của khu vực sản xuất - khó tham gia quá trình chuyển đổi xanh.
Thứ tư, khung thể chế đã hoàn thiện hơn nhưng việc triển khai và phối hợp chính sách vẫn đặt ra những yêu cầu đáng kể
Danh mục phân loại xanh quốc gia là bước tiến quan trọng, song việc xác định một dự án đủ điều kiện về môi trường chưa tự động bảo đảm dự án đó được tiếp cận vốn với chi phí hợp lý. Hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc vào sự thống nhất giữa tiêu chí môi trường, quy định tín dụng, cơ chế phát hành chứng khoán, chính sách thuế và các chương trình hỗ trợ đầu tư. Nguyên nhân là tài chính xanh có tính liên ngành, liên quan đến nhiều cơ quan quản lý và chủ thể thị trường, trong khi năng lực hướng dẫn, kiểm tra và giám sát có thể chưa đồng đều. Ngoài ra, việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển, năng lực dữ liệu và đặc điểm doanh nghiệp Việt Nam để vừa bảo đảm tính tương thích, vừa tránh tạo ra chi phí tuân thủ quá lớn.
Thứ năm, chất lượng dữ liệu, năng lực đánh giá rủi ro khí hậu và cơ chế xác minh tác động môi trường còn là những điểm nghẽn
Việc xác định một khoản vay hoặc công cụ tài chính có thực sự tạo ra lợi ích môi trường đòi hỏi dữ liệu đáng tin cậy về mức tiêu thụ năng lượng, phát thải khí nhà kính, sử dụng tài nguyên và kết quả thực hiện dự án. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống dữ liệu ESG đầy đủ, trong khi các tổ chức tài chính phải đầu tư nguồn lực để thu thập, kiểm tra và phân tích thông tin. Nguyên nhân là chi phí đo lường và báo cáo còn cao, phương pháp đánh giá chưa đồng nhất, đội ngũ chuyên gia còn thiếu và cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức tài chính chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Những hạn chế này làm tăng bất cân xứng thông tin, gây khó khăn cho việc định giá rủi ro và có thể làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư nếu thiếu cơ chế xác minh độc lập.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH XANH
Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện khung pháp lý, đa dạng hóa nguồn vốn, nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia và phát triển đồng bộ hệ sinh thái tài chính xanh như sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và khung pháp lý về tài chính xanh
Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến tín dụng xanh, trái phiếu xanh và Danh mục phân loại xanh quốc gia, nhưng hệ thống pháp luật vẫn chưa đồng bộ, đặc biệt về tiêu chuẩn ESG, công bố thông tin và cơ chế giám sát. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng thống nhất giữa các luật và văn bản hướng dẫn, đồng thời ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về phân loại dự án xanh, xác minh độc lập và công bố thông tin nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế hiện tượng “greenwashing” và tăng khả năng huy động nguồn vốn xanh (OECD, 2025; Thủ tướng Chính phủ, 2025).
Hai là, mở rộng tín dụng xanh và đa dạng hóa nguồn vốn
Nguồn vốn cho chuyển đổi xanh hiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, trong khi nhu cầu đầu tư rất lớn. Vì vậy, cần mở rộng các chương trình tín dụng xanh, nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn ưu đãi, quỹ bảo lãnh và chia sẻ rủi ro đối với các dự án xanh; đồng thời phát triển thị trường trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và các công cụ tài chính bền vững nhằm huy động hiệu quả nguồn vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế xanh (World Bank, 2022; ICMA, 2021).
Ba là, nâng cao năng lực của các tổ chức tài chính và doanh nghiệp
Cần tăng cường đào tạo về tài chính xanh, quản trị rủi ro môi trường - xã hội và hỗ trợ các tổ chức tín dụng xây dựng hệ thống quản trị theo chuẩn quốc tế. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn ESG, thực hiện báo cáo phát triển bền vững và minh bạch hóa thông tin, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong nước và quốc tế (IFC, 2023).
Bốn là, phát triển thị trường carbon và tăng cường hợp tác quốc tế
Việt Nam cần đẩy nhanh lộ trình vận hành thị trường carbon theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, kết nối thị trường carbon với thị trường tài chính xanh và mở rộng hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế nhằm thu hút nguồn vốn ưu đãi, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản trị phục vụ mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 (World Bank, 2025).
Năm là, xây dựng hệ sinh thái tài chính xanh đồng bộ
Kết nối hiệu quả giữa tín dụng xanh, thị trường vốn xanh, thị trường carbon và các tiêu chuẩn ESG; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển cơ sở dữ liệu tài chính xanh và tăng cường chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính và doanh nghiệp. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo nền tảng huy động hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững của Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
2. International Capital Market Association (2021). Green bond principles 2021. https://www.icmagroup.org/sustainable-finance/the-principles-guidelines-and-handbooks/green-bond-principles-gbp/
3. Ministry of Agriculture and Environment (2026). Green credit lending reaches nearly 780 trillion VND. https://en.mae.gov.vn/green-credit-lending-reaches-nearly-780-trillion-vnd-9245.htm
4. M. H (2025). Thúc đẩy tín dụng xanh tại Việt Nam: Đồng bộ khung pháp lý và ưu đãi mạnh mẽ. https://vnba.org.vn/vi/thuc-day-tin-dung-xanh-tai-viet-nam--dong-bo-khung-phap-ly-va-uu-dai-manh-me-18294.htm
5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2023). Quyết định số 1408/QĐ-NHNN ngày 26/7/ 2023 ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030.
6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2025). Sổ tay hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.
7. OECD (2025). OECD economic surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing.
8. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
10. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc Danh mục phân loại xanh.
11. United Nations Environment Programme (2023). State of finance for nature 2023. UNEP.
12. Vietnam Bond Market Association (2025). Vietnam bond market report 2024. https://vbma.org.vn/storage/reports/March2025/VBMA_BOND%20MARKET%20REPORT%202024.pdf
13. World Bank (2022). Country climate and development report: Vietnam.
14. World Bank (2025). Viet Nam 2045: Growing greener - Pathways to a resilient and sustainable future.
| Ngày nhận bài: 7/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 29/10/2026 |
Các tin khác
Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh
Phát triển năng lực số và tâm lý số cho sinh viên ngành Logistics tại Việt Nam
Tác động của Chatbot AI trong thương mại điện tử đến sự hài lòng của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh
Kinh nghiệm quốc tế về chuyển giao công nghệ từ khu vực FDI: Trường hợp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và hàm ý cho Việt Nam
Các yếu tố tác động đến quyết định mua sắm của Gen Z trên nền tảng Tiktok shop tại Cần Thơ
Các yếu tố chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo (TP. Hồ Chí Minh)
Đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chế biến thực phẩm: Đề xuất mô hình nghiên cứu
Không gian phát triển mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Góc nhìn từ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo Văn kiện đại hội XIV của Đảng
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng xanh nhập khẩu tại Việt Nam