Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam
ThS. Đào Xuân Lộc
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tái định hình cấu trúc kinh tế toàn cầu, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ được xác định là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Dựa trên việc phân tích thực trạng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam giai đoạn 2020-2025, nghiên cứu chỉ ra những thành tựu bước đầu và các “điểm nghẽn” về thể chế, tài chính và hạ tầng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù Việt Nam có thứ hạng đổi mới sáng tạo quốc tế khả quan, nhưng năng suất lao động của nhân lực khoa học và công nghệ còn thấp do thiếu cơ chế “Sandbox” và sự đứt gãy trong liên kết viện - trường - doanh nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, tạo động lực thúc đẩy nhân lực khoa học và công nghệ phát triển cả về lượng và chất, góp phần giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển trung, dài hạn trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo, nhân lực khoa học và công nghệ, R&D, khởi nghiệp sáng tạo
Abstract
In the context of the Fourth Industrial Revolution reshaping the global economic structure, science and technology (S&T) human resources are identified as a key factor determining national competitiveness. Based on an analysis of the current state of Viet Nam’s innovation ecosystem during the 2020-2025 period, the study identifies initial achievements as well as bottlenecks in institutions, finance, and infrastructure. The findings show that, although Viet Nam has achieved a relatively favorable position in international innovation rankings, the productivity of S&T human resources remains low due to the lack of a “Sandbox” mechanism and weak linkages among research institutes, universities, and enterprises. Accordingly, the study proposes four groups of solutions to improve the innovation ecosystem, create incentives for the development of S&T human resources in both quantity and quality, and support Viet Nam in achieving its medium- and long-term development objectives in the current context.
Keywords: Innovation, science and technology human resources, R&D, innovative startups
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỷ XXI đã chứng kiến sự chuyển dịch căn bản của nền kinh tế thế giới từ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ sang nền kinh tế tri thức, nơi mà sức sáng tạo và công nghệ trở thành động lực tăng trưởng chính. Các quốc gia như Israel, Hàn Quốc hay Singapore đã chứng minh rằng, sự thịnh vượng không phụ thuộc vào quy mô dân số hay diện tích lãnh thổ, mà phụ thuộc vào khả năng xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) năng động để nuôi dưỡng nhân tài.
Đối với Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN), đổi mới sáng tạo là những trụ cột song hành. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra một nghịch lý: Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng với lực lượng lao động trẻ, thông minh, nhưng lại đối mặt với nguy cơ chảy máu chất xám và thiếu hụt trầm trọng nhân sự chất lượng cao trong các lĩnh vực quan trọng, như: bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI). Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là hệ sinh thái ĐMST ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa hoàn thiện để có đủ những yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nguồn nhân lực KH&CN. Vì vậy, việc phát triển hệ sinh thái ĐMST nhằm thúc đẩy phát triển nhân lực KH&CN ở Việt Nam là cần thiết.
MỐI QUAN HỆ GIỮA HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mối quan hệ giữa HST ĐMST và nhân lực KH&CN không phải là mối quan hệ tuyến tính hay phụ thuộc một chiều, mà là mối quan hệ cộng sinh, biện chứng và đồng tiến hóa:
Một là, hệ sinh thái ĐMST đóng vai trò là môi trường, cung cấp bệ đỡ, nguồn lực và thị trường cho nhân lực KH&CN, thông qua:
- Cung cấp bệ đỡ vật chất và hạ tầng thực nghiệm: KH&CN hiện đại không thể phát triển chỉ bằng tư duy trừu tượng mà đòi hỏi hệ thống hạ tầng đồng bộ (phòng thí nghiệm hiện đại, phòng sạch, siêu máy tính, trung tâm dữ liệu, thiết bị đo kiểm). Hệ sinh thái ĐMST hoàn thiện cung cấp các điều kiện vật chất này để các nhà khoa học, kỹ sư hiện thực hóa ý tưởng nghiên cứu.
- Cung cấp khung thể chế an toàn và văn hóa dung chấp rủi ro: Hoạt động sáng tạo khoa học và khởi nghiệp công nghệ luôn gắn liền với tỷ lệ thất bại cao. Một hệ sinh thái sở hữu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) và tư duy quản lý tiến bộ sẽ cởi bỏ tâm lý e ngại trách nhiệm, bảo vệ nhà nghiên cứu trước rủi ro pháp lý, kích thích tinh thần dấn thân vào các bài toán công nghệ thách thức.
- Cơ chế thị trường hóa và bảo đảm lợi ích kinh tế: Hệ sinh thái thiết lập cơ chế sở hữu trí tuệ minh bạch và thị trường công nghệ sôi động, giúp biến các công trình khoa học từ trang giấy thành sản phẩm thương mại có giá trị thặng dư cao. Điều này mang lại nguồn thu nhập xứng đáng cho nhà khoa học, tạo động lực kinh tế nội sinh để họ tái đầu tư vào nghiên cứu và ngăn chặn tình trạng dịch chuyển chất xám ra nước ngoài.
Hai là, nhân lực KH&CN là hạt nhân, chủ thể sáng tạo quyết định sức sống và đẳng cấp của hệ sinh thái. Họ là chủ thể sinh tạo tri thức và công nghệ mới. Nhân lực KH&CN chính là nguồn cấp năng lượng sơ cấp cho hệ sinh thái thông qua các công trình nghiên cứu, bằng sáng chế và giải pháp hữu ích; là chủ thể kết nối các mắt xích trong hệ sinh thái. Các nhà khoa học, kỹ sư khởi nghiệp và nhà quản trị công nghệ đóng vai trò là cầu nối lưu chuyển dòng tri thức giữa trường đại học với các doanh nghiệp thương mại, biến hệ sinh thái từ các thành tố tĩnh thành một mạng lưới vận hành linh hoạt.
Ba là, mối quan hệ hữu cơ này được vận hành tối ưu thông qua mô hình xoắn ốc 3 bên (Triple Helix) gồm: Nhà nước - viện/trường - doanh nghiệp:
- Nhà nước kiến tạo khung khổ pháp lý, tài trợ vốn mồi và đầu tư hạ tầng nghiên cứu công cộng.
- Viện/trường cung cấp nền tảng tri thức lý thuyết và đào tạo nguồn nhân lực đạt chuẩn chất lượng.
- Doanh nghiệp đặt hàng các bài toán công nghệ thực tiễn, đầu tư vốn R&D và đóng vai trò môi trường rèn luyện thực chiến cho nhân lực.
THỰC TRẠNG HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
Những thành tựu đạt được
Trong giai đoạn 2020-2025, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực kiến tạo nền móng cho HST ĐMST, bước đầu tạo ra không gian hoạt động thuận lợi cho lực lượng KH&CN:
Thứ nhất, vị thế đổi mới sáng tạo quốc tế được củng cố vững chắc. Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2025 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, Việt Nam tiếp tục duy trì thứ hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế. Trong nhóm 38 nền kinh tế thu nhập trung bình thấp, Việt Nam giữ vững vị trí thứ 2 (chỉ sau Ấn Độ) và được ghi nhận là một trong 9 quốc gia cải thiện thứ hạng nhanh nhất toàn cầu kể từ năm 2013. Tại khu vực ASEAN, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 3, vượt qua Thái Lan và xếp sau Singapore, Malaysia. Đáng chú ý, Việt Nam duy trì 3 chỉ số thành phần đứng đầu thế giới (hạng 1/139), gồm: Nhập khẩu công nghệ cao, Xuất khẩu công nghệ cao và Xuất khẩu hàng hóa sáng tạo (% tổng giao dịch thương mại); đồng thời nằm trong top 3 quốc gia có tốc độ tăng trưởng năng suất lao động nhanh nhất giai đoạn 2014-2024. Những chỉ số này phản ánh độ mở kinh tế lớn và khả năng tích hợp nhanh chóng của nhân lực công nghệ Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ hai, hạ tầng hỗ trợ và không gian ươm tạo nhân tài bước đầu hình thành: Sự thành lập và đi vào vận hành của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc theo cơ chế ưu đãi đặc thù (theo Nghị định số 94/2020/NĐ-CP ngày 21/8/2020 của Chính phủ), cùng mạng lưới các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh đã tạo ra các không gian vật lý và không gian số hiện đại. Đây là nơi quy tụ hàng vạn chuyên gia, kỹ sư công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa học thuật, ươm tạo các ý tưởng kinh doanh sáng tạo và kết nối nhân lực trong nước với mạng lưới chuyên gia toàn cầu.
Thứ ba, dòng vốn đầu tư tư nhân từng bước dịch chuyển vào công nghệ hàm lượng tri thức cao: Báo cáo Đổi mới sáng tạo và Vốn đầu tư tư nhân Việt Nam 2025 (NIC, VPCA & BCG, 2025) chỉ ra rằng: dù thị trường đầu tư mạo hiểm quốc tế có sự suy giảm, năm 2024 các startup công nghệ Việt Nam vẫn huy động được 398 triệu USD qua 118 thương vụ; tổng vốn đầu tư tư nhân (PE và VC) đạt 2,3 tỷ USD qua 141 thương vụ. Điểm sáng là sự bùng nổ của các thương vụ giai đoạn sớm (early-stage dưới 0,5 triệu USD với 57 giao dịch) và sự dịch chuyển rõ nét của dòng vốn từ các mô hình đốt tiền mở rộng thị phần sang tài trợ cho các công nghệ nền tảng đòi hỏi hàm lượng chất xám chuyên sâu, như AI, nông nghiệp công nghệ cao (AgriTech), công nghệ xanh (GreenTech) và thiết kế vi mạch bán dẫn. Xu hướng này bước đầu mở ra cơ hội việc làm và môi trường nghiên cứu thực tế cho các nhóm nghiên cứu tinh hoa.
Thứ tư, sự trỗi dậy của các tập đoàn công nghệ lớn với vai trò “vườn ươm” nhân lực thực chiến: Cả nước hiện có hơn 3.800 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST, 4 “kỳ lân” công nghệ (VNG, VNPay, MoMo, Sky Mavis) và gần 74.000 doanh nghiệp công nghệ số (đóng góp 18,3%-18,5% GDP đầu năm 2025) (Bộ KH&CN, 2025). Đặc biệt, các tập đoàn như Viettel, FPT, Vingroup đã chuyển đổi mạnh mẽ từ vai trò tiêu thụ công nghệ sang trực tiếp tham gia nghiên cứu và phát triển (R&D) và đào tạo nhân lực thông qua các viện nghiên cứu chuyên trách (VinBigData, Viện Hàng không Vũ trụ Viettel, Tổng công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel - VHT). Tập đoàn Viettel là minh chứng tiêu biểu cho thấy một hệ sinh thái nội bộ chuẩn mực có thể nâng tầm nhân lực quốc gia vượt bậc. Trước năm 2010, Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào thiết bị viễn thông ngoại nhập, nhân lực trong nước chỉ thuần túy làm công tác vận hành, bảo dưỡng. Khi thành lập Tổng Công ty Công nghiệp Công nghệ cao Viettel (VHT), Tập đoàn đã trích lập 10% lợi nhuận trước thuế hàng năm (hàng nghìn tỷ đồng) cho Quỹ phát triển KH&CN làm vốn mồi R&D. Viettel áp dụng cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ đặc thù thoát ly khỏi ngạch bậc hành chính: mức lương chuyên gia trưởng tương đương chuẩn quốc tế (hàng nghìn USD/tháng), cấp nhà, xe và bảo hiểm cao cấp. Hệ sinh thái này đã thu hút hàng nghìn kỹ sư xuất sắc, trong đó có nhiều chuyên gia người Việt từ bỏ thung lũng Silicon hay Google, NASA trở về.
Một số hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ sinh thái ĐMST Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, có tác động không nhỏ đến sự phát triển của nhân lực KH&CN.
Một là, về đầu tư cho R&D. Thực tiễn cho thấy, việc đầu tư cho R&D hiện nay còn khá thấp. Điều này dẫn đễn tình trạng cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu cho các nhà khoa học còn thiếu thốn, khó tạo ra các công trình nghiên cứu có tầm cỡ quốc tế và khu vực. Bên cạnh đó, nguồn lực cho R&D còn hạn chế gây ra tình trạng chảy máu chất xám ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Số liệu từ Bộ KH&CN và Ngân hàng Thế giới cho thấy, tổng chi quốc gia cho R&D của Việt Nam những năm gần đây chỉ dao động ở mức 0,4%-0,53% GDP. Con số này thấp hơn nhiều so với Thái Lan (1,3%), Malaysia (1,4%), Singapore (2,2%) và mức trung bình thế giới (2,63%). Sự chênh lệch gấp từ 4-9 lần này giải thích vì sao cơ sở vật chất cho các nhà khoa học Việt Nam còn thiếu thốn, khó tạo ra các công trình nghiên cứu tầm cỡ quốc tế (Bộ KH&CN, 2024).
Hai là, sự đứt gãy trong mô hình liên kết “ba nhà”. Mối liên kết giữa Nhà nước - viện/trường - doanh nghiệp còn mang tính hình thức. Phần lớn đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước sau khi nghiệm thu không chuyển giao được cho thị trường. Các trường đại học đào tạo thiên về lý thuyết hàn lâm, chậm cập nhật công nghệ mới, trong khi doanh nghiệp (chiếm 97% là doanh nghiệp nhỏ và vừa) chủ yếu tư duy ngắn hạn, ngại chi tiền đặt hàng nghiên cứu mà lựa chọn mua công nghệ ngoại nhập có sẵn.
Sự đứt gãy này gây ra hệ quả kép: (i) Tỷ lệ nhân lực R&D toàn thời gian (FTE) của Việt Nam rất thấp, chỉ đạt khoảng 7,6 người FTE/vạn dân (760 người FTE/triệu dân), kém xa mức hơn 2.300 của Malaysia hay 1.800 của Thái Lan, khoảng cách lớn so với mục tiêu 12 người FTE/vạn dân vào năm 2030 (Bộ KH&CN, 2025); (ii) Năng suất lao động tuy năm 2024 tăng 5,88% (đạt 221,9 triệu đồng/lao động, tương đương 9.182 USD), nhưng tính theo sức mua tương đương (PPP 2024), năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt khoảng 25.850 USD/lao động, đứng thứ 6 trong ASEAN, chỉ tương đương 12% của Singapore và 36% của Thái Lan (Tổng cục Thống kê, 2025). Nền kinh tế thâm dụng lao động gia công lắp ráp ở phân khúc giá trị thấp; nhân lực KH&CN rơi vào trạng thái “thừa bằng cấp lý thuyết, nhưng thiếu năng lực thực chiến”, nhiều tiến sĩ, thạc sĩ phải làm trái ngành hoặc chuyển sang hành chính thuần túy.
Ba là, về cơ chế quản lý khoa học và môi trường nghiên cứu. Bản chất của hoạt động KH&CN và ĐMST là quá trình phi truyền thống với độ rủi ro thất bại từ 90%-95%. Tuy nhiên, cơ chế quản lý tài chính hiện hành tại Việt Nam vẫn áp đặt tư duy hành chính: đòi hỏi hóa đơn, chứng từ chi tiết, quyết toán phức tạp theo quy định đầu tư công. Việc thiếu vắng khung pháp lý Sandbox và cơ chế miễn trừ trách nhiệm dân sự/hình sự khi gặp rủi ro nghiên cứu đã tạo ra tâm lý “sợ sai”, “né tránh trách nhiệm” trong giới nghiên cứu. Các nhà khoa học buộc phải lựa chọn những đề tài mang tính an toàn, đối phó, không dám dấn thân vào các nghiên cứu mũi nhọn mang tính đột phá.
Bốn là, về thị trường vốn đầu tư. Thị trường vốn đầu tư mạo hiểm nội địa quy mô còn nhỏ và chủ yếu đổ vào mảng thương mại điện tử, dịch vụ tài chính (Fintech) do khả năng hoàn vốn nhanh. Dòng vốn dành cho công nghệ sâu (Deep Tech), như: công nghệ sinh học, vật liệu mới, bán dẫn vô cùng khan hiếm. Sự dẫn dắt lệch lạc của dòng vốn này dẫn đến sự mất cân đối trầm trọng về nhân lực: xã hội đổ xô đào tạo gia công phần mềm ứng dụng (outsourcing) ngắn hạn, trong khi các ngành khoa học cơ bản (toán ứng dụng, vật lý, hóa học) và kỹ thuật nền tảng (cơ khí chính xác, vật liệu) lâm vào cảnh thiếu người học và thiếu chuyên gia nghiên cứu. Báo cáo Thị trường IT Việt Nam 2024-2025 (TopDev, 2025) phản ánh: dù có trên 560.000 kỹ sư và lập trình viên, giai đoạn 2024-2025 cả nước vẫn thiếu hụt từ 150.000 đến 200.000 nhân sự kỹ thuật chất lượng cao; chỉ khoảng 30%-35% sinh viên tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia.
Năm là, về chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài. Chính sách đãi ngộ nhân lực KH&CN hiện nay chưa có tính cạnh tranh trong khu vực. Theo khảo sát của NodeFlair (2025), mức thu nhập bình quân của kỹ sư cao cấp chuyên ngành AI/Machine Learning tại Việt Nam dao động từ 2.800-4.500 USD/tháng, trong khi mức lương cho vị trí tương đương tại Singapore đạt từ 7.000-11.000 USD/tháng kèm quyền chọn cổ phiếu hấp dẫn và thuế suất ưu đãi (NodeFlair, 2025).
Bên cạnh khoảng cách thu nhập, thủ tục cấp visa lao động, giấy phép làm việc của Việt Nam còn mang nặng tính cơ chế bảo lãnh hành chính theo doanh nghiệp, thiếu các hình thức thị thực linh hoạt cấp trực tiếp cho nhân tài cá nhân (như Tech Pass của Singapore). Điều này tạo rào cản lớn ngăn trở các chuyên gia kiều bào xuất sắc và nhân tài quốc tế đến làm việc, chuyển giao tri thức tại Việt Nam.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Để hệ sinh thái ĐMST thực sự trở thành bệ phóng cho nhân lực KH&CN, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, về thể chế và chính sách quản lý, để tháo gỡ tâm lý e ngại rủi ro và giải phóng sức sáng tạo của nhân lực nghiên cứu, Chính phủ và các cơ quan lập pháp cần khẩn trương ban hành cơ chế Sandbox vượt trội, áp dụng trước mắt tại các vùng động lực công nghệ như NIC Hòa Lạc hay “thủ phủ” trung tâm ĐMST Thủ Đức của TP. Hồ Chí Minh. Cơ chế này cần thiết lập hành lang pháp lý miễn trừ trách nhiệm hình sự và dân sự trong một giới hạn rủi ro nghiên cứu được cho phép. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới tư duy quản lý tài chính, chuyển từ khoán chi tiết theo chứng từ sang khoán trực tiếp đến sản phẩm cuối cùng, nhằm cắt giảm hoàn toàn các rào cản hành chính đang trói buộc nhà khoa học.
Thứ hai, về năng lực đào tạo và phát triển chuyên môn, nhằm khắc phục sự đứt gãy trong cấu trúc “ba nhà”, giải pháp trọng tâm là tái định hình phương thức gắn kết giữa khối doanh nghiệp và trường đại học. Các tập đoàn công nghệ cần chuyển từ vai trò nhà tài trợ học bổng thụ động sang chủ thể đồng kiến tạo. Bằng việc tham gia trực tiếp vào hội đồng khoa học, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh khung chương trình đào tạo sát với thực tiễn công nghệ mới, đồng thời cung cấp nguồn lực tài chính để xây dựng các phòng thí nghiệm dùng chung ngay tại cơ sở giáo dục. Mô hình này không chỉ xóa bỏ tình trạng sinh viên thiếu kinh nghiệm thực tiễn mà còn đảm bảo tạo ra đội ngũ nhân lực sẵn sàng tiếp nhận công việc với năng suất cao.
Thứ ba, về khơi thông tài chính và hạ tầng phục vụ nghiên cứu, để lấp đầy khoảng trống về vốn cho các công nghệ cốt lõi và giữ chân chuyên gia ngành hẹp, Nhà nước cần thành lập các Quỹ đầu tư mạo hiểm đối ứng. Bằng cách sử dụng ngân sách công làm vốn mồi (theo tỷ lệ đối ứng 1:1) kèm cơ chế ưu đãi lãi suất, Nhà nước sẽ đóng vai trò chia sẻ rủi ro, qua đó dẫn dắt và kích thích dòng vốn tư nhân chảy vào các dự án khởi nghiệp công nghệ sâu. Nguồn lực đầu tư công cũng cần ưu tiên tối đa cho việc xây dựng các đại dự án hạ tầng nghiên cứu dùng chung (như trung tâm dữ liệu lớn, phòng sạch sản xuất vi mạch) để giải quyết bài toán thiếu hụt thiết bị nghiên cứu cho cộng đồng khoa học.
Thứ tư, về chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài, các cơ quan hoạch định chính sách cần thiết kế một gói ưu đãi mang tính cạnh tranh khu vực nhằm đảo ngược tình trạng chảy máu chất xám. Nổi bật trong đó là việc áp dụng khung thuế thu nhập cá nhân đặc thù đối với chuyên gia làm việc trong các dự án công nghệ lõi. Song song với đó, bộ ngành liên quan cần đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính, cung cấp các loại visa lao động linh hoạt không phụ thuộc vào bảo lãnh doanh nghiệp để tạo điều kiện lưu chuyển tự do cho giới tinh hoa quốc tế và kiều bào. Một hệ sinh thái sở hữu hạ tầng mạnh, chính sách cởi mở và chế độ đãi ngộ vượt chuẩn sẽ tự động trở thành một thỏi nam châm thu hút nhân tài, thúc đẩy quốc gia vươn lên trong các chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). Sách trắng Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2023. Nxb Khoa học và Kỹ thuật.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo tình hình hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2024, phương hướng nhiệm vụ năm 2025.
3. NIC, VPCA & BCG (2025). Vietnam Innovation & Private Capital Report 2025 (Báo cáo Đổi mới sáng tạo và Vốn đầu tư tư nhân Việt Nam 2025). Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Hà Nội.
4. NodeFlair (2025). Southeast Asia Tech Salary Report 2025, Singapore.
5. TopDev (2025). Báo cáo thị trường IT Việt Nam năm 2024-2025 (Vietnam IT Market Report 2024-2025), TP. Hồ Chí Minh.
6. Tổng cục Thống kê (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024. Nxb Thống kê.
7. World Intellectual Property Organization (WIPO) (2025). Global Innovation Index 2025: Unlocking the Future of Innovation. Geneva: WIPO.
| Ngày nhận bài: 22/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/9/2026; Ngày duyệt đăng: 13/9/2026 |
Các tin khác
Phát huy vai trò của pháp luật đất đai trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững tại Việt Nam
Giải pháp nâng cao sự hài lòng, thúc đẩy ý định quay lại của khách hàng tại chuỗi cà phê thương hiệu Nón Coffee ở TP. Hồ Chí Minh
Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế
Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách
Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan