Mức độ thích ứng của sinh viên năm nhất đối với môi trường đại học: Trường hợp tại Trường Du lịch, Đại học Huế

Nghiên cứu - Trao đổi 20:41 | 25/06/2026
Việc sinh viên năm nhất sớm thích ứng một cách chủ động và hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao kết quả học tập, chất lượng đào tạo và đảm bảo việc đạt được các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo theo định hướng của nhà trường.

ThS. Lê Thị Thanh Giao

Email: lttgiao@hueni.edu.vn

CN. Lê Nguyễn Xuân Trang

TS. Đoàn Khánh Hưng

Trường Du lịch, Đại học Huế

Tóm tắt

Nghiên cứu này hướng đến việc phân tích khả năng thích nghi của sinh viên năm thứ nhất trong bối cảnh môi trường học tập đại học, thông qua trường hợp nghiên cứu tại Trường Du lịch, Đại học Huế. Trên cơ sở phân tích dữ liệu 283 bảng hỏi thu thập được, kết quả nghiên cứu cho thấy, có 4 nhóm yếu tố chủ yếu phản ánh mức độ thích ứng của sinh viên, bao gồm: thích ứng trong học tập, thích ứng về mặt xã hội, thích ứng cảm xúc và mức độ cam kết đối với việc học. Từ đó, nghiên cứu cũng tạo nền tảng thực tiễn cho việc xây dựng các chương trình hỗ trợ nâng cao khả năng thích ứng của sinh viên năm nhất.

Từ khóa: Đại học Huế, môi trường đại học, mức độ thích ứng, sinh viên năm nhất, Trường Du lịch

Abstract

This study aims to analyze the adaptability of first-year students in the university learning environment through a case study at the School of Hospitality and Tourism, Hue University. Based on data collected from 283 valid questionnaires, the analysis reveals four major dimensions reflecting students' levels of adaptation: Academic Adaptation, Social Adaptation, Emotional Adaptation, and Commitment to Learning. The study also provides a practical foundation for developing support programs to enhance first-year students' adaptability in higher education settings.

Keywords: Hue University, university environment, adaptability, first-year students, School of Hospitality and Tourism

GIỚI THIỆU

Đại học được xem là một cột mốc quan trọng trong quá trình học tập và phát triển của mỗi cá nhân, mở ra giai đoạn mới với nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức. So với bậc trung học phổ thông, môi trường đại học có sự khác biệt rõ rệt về phương pháp giảng dạy, hình thức học tập, yêu cầu tự học cũng như cách thức tổ chức đời sống sinh viên. Những thay đổi này đòi hỏi sinh viên phải nhanh chóng thích nghi nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng cần thiết, hoàn thiện nhân cách và tích lũy kiến thức nghề nghiệp, từ đó đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, quá trình thích ứng với môi trường đại học, đặc biệt trong năm học đầu tiên, luôn là một thách thức lớn đối với sinh viên. Khi bước vào môi trường học tập mới, sinh viên năm nhất thường phải tiếp nhận một lượng lớn thông tin, đồng thời chịu áp lực từ học tập, các mối quan hệ xã hội và kỳ vọng về kết quả học tập. Nếu khả năng thích ứng không tốt, sinh viên có thể rơi vào trạng thái căng thẳng, chán nản, cảm thấy tụt lại so với bạn bè, thậm chí dẫn đến ý định bỏ học. Do đó, việc hỗ trợ sinh viên năm nhất thích nghi hiệu quả với môi trường đại học có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân người học mà còn đối với chất lượng đào tạo chung của nhà trường.

Trường Du lịch, Đại học Huế định hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn sinh viên chuyển tiếp từ bậc trung học phổ thông lên đại học vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với phương pháp học tập mới và môi trường học tập đại học. Việc sinh viên năm nhất sớm thích ứng một cách chủ động và hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao kết quả học tập, chất lượng đào tạo và đảm bảo việc đạt được các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo theo định hướng của nhà trường.

Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu và đánh giá mức độ thích ứng của sinh viên năm nhất đối với môi trường đại học tại Trường Du lịch, Đại học Huế là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Thông qua việc phân tích thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng, nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh viên trong giai đoạn đầu đại học, đồng thời tạo tiền đề giúp sinh viên các khóa sau hoàn thành tốt các yêu cầu và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

sở lý luận

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung phân tích sự thích ứng của sinh viên đối với môi trường đại học, đặc biệt là trong năm học đầu tiên - giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ trung học phổ thông lên giáo dục đại học. Đây là thời kỳ sinh viên phải đối mặt với những thay đổi lớn về phương pháp học tập, môi trường xã hội và tâm lý cá nhân.

Trong các nghiên cứu quốc tế, Aurel Ion Clinciu (2012) đã sử dụng thang đo Student Adaptation to College Questionnaire (SACQ) do Baker và Siryk phát triển để đánh giá mức độ thích ứng của sinh viên trên 4 khía cạnh chính: thích ứng học thuật, thích ứng xã hội, thích ứng cá nhân - cảm xúc và mức độ gắn kết với nhà trường. Trước đó, Baker và Siryk (1984) đã xây dựng mô hình Nhận thức - Hành vi dựa trên SACQ, xác định 4 thành phần cốt lõi của sự thích ứng với môi trường đại học, bao gồm: thích ứng học thuật, thích ứng xã hội, thích ứng cá nhân - tình cảm và sự gắn kết với mục tiêu, tổ chức đào tạo. Mô hình này được xem là nền tảng lý thuyết quan trọng và được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về sinh viên năm nhất. Bên cạnh đó, Pennebaker và cộng sự (1990) đã phát triển công cụ College Adjustment Test (CAT) nhằm đo lường sự thích ứng của sinh viên, chủ yếu tập trung vào các trải nghiệm tâm lý và cảm xúc trong giai đoạn chuyển đổi, tuy nhiên chưa bao quát đầy đủ các khía cạnh học thuật và gắn kết tổ chức. Ngoài ra, Tinto (1993) với mô hình Tương tác xã hội nhấn mạnh rằng quyết định tiếp tục hay rời bỏ đại học của sinh viên phụ thuộc lớn vào mức độ hòa nhập học thuật và xã hội.

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu gần đây cũng quan tâm đến vấn đề này. Vũ Mộng Đoá (2006) cho thấy, mức độ thích ứng học tập của sinh viên khác nhau giữa các năm học và chịu ảnh hưởng bởi nơi cư trú trước khi vào đại học, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thái độ học tập, phương pháp giảng dạy và mức độ tìm hiểu ngành học. Hoàng Thế Hải và Bùi Vân Vân (2013) nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cho thấy mức độ thích ứng còn thấp, trong đó các yếu tố chủ quan từ sinh viên có ảnh hưởng mạnh hơn yếu tố khách quan. Nguyễn Đức Quỳnh (2014) tiếp cận sự thích ứng theo 3 khía cạnh nhận thức, thái độ và hành vi, từ đó đề xuất các tiêu chí đánh giá cụ thể. Gần đây, Võ Văn Việt (2018) kế thừa thang đo SACQ để phân tích sự thích ứng của sinh viên năm nhất, với kết quả cho thấy mức độ thích ứng ở mức trung bình và vẫn tồn tại nhiều khó khăn trong quá trình hòa nhập.

Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp với khảo sát thực tiễn tại Trường Du lịch, Đại học Huế, nghiên cứu này kế thừa các mô hình của Nguyễn Hoàng Trung, Huỳnh Lê Uyên Minh (2022) và Võ Văn Việt (2018) để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh cụ thể như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mức độ thích ứng của sinh viên năm nhất đối với môi trường đại học: Trường hợp tại Trường Du lịch, Đại học Huế

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp đề xuất

Trong nghiên cứu này, Sự thích ứng của sinh viên năm nhất với môi trường đại học được xem xét qua 4 khía cạnh chính:

Thứ nhất, thích ứng học thuật phản ánh khả năng đáp ứng các yêu cầu học tập ở bậc đại học, bao gồm mức độ tham gia học tập, duy trì động lực, quản lý thời gian và thái độ đối với việc học. Biểu hiện cụ thể là sự hài lòng với chương trình học, khả năng tiếp thu kiến thức, mức độ tập trung và các kỹ năng học tập như ghi chép, ôn tập.

Thứ hai, thích ứng xã hội thể hiện khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ tích cực trong môi trường đại học, bao gồm giao tiếp với bạn bè, giảng viên và tham gia hoạt động tập thể, từ đó tạo cảm giác gắn kết và nhận được hỗ trợ tinh thần.

Thứ ba, thích ứng cảm xúc là khả năng nhận diện và kiểm soát các trạng thái như lo âu, căng thẳng, giúp duy trì sức khỏe tinh thần và hiệu quả học tập.

Cuối cùng, mức độ cam kết mục tiêu phản ánh sự gắn bó với Nhà trường, thể hiện qua sự hài lòng và quyết tâm theo đuổi mục tiêu học tập, nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp cả phương pháp phân tích định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện trong giai đoạn đầu, nhằm tổng hợp và xác định những khía cạnh cấu thành sự thích ứng với môi trường đại học. Nghiên cứu định lượng được tiến hành nhằm lượng hóa mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Số phiếu khảo sát được thu thập là 283 so với tổng số sinh viên năm nhất đang theo học tại Trường Du lịch - Đại học Huế là 966 sinh viên, sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng tỷ lệ kết hợp với chọn mẫu thuận tiện. Dữ liệu sơ cấp sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0. Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đo lường mức độ đánh giá của sinh viên đối với các tiêu chí nghiên cứu, trong đó: 1- “hoàn toàn không đồng ý” và 5- “hoàn toàn đồng ý”. Bên cạnh đó, các kỹ thuật phân tích thống kê như kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố và phân tích hồi quy được sử dụng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên năm nhất với môi trường đại học.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Kết quả khảo sát 283 sinh viên năm nhất cho thấy cơ cấu giới tính tương đối cân bằng, với 52,3% nữ và 47,7% nam, phản ánh khá sát thực tế tại Trường Du lịch, Đại học Huế. Về vùng miền, sinh viên chủ yếu đến từ miền Trung (62,2%), tiếp theo là miền Bắc (21,9%) và miền Nam (15,9%), phù hợp với phạm vi tuyển sinh của Trường.

Xét về hình thức cư trú, hơn một nửa sinh viên thuê trọ bên ngoài (51,2%), trong khi số còn lại ở nhà riêng (26,5%), ký túc xá (13,2%) hoặc cùng người thân (9,2%), cho thấy phần lớn sinh viên phải tự lập khi bước vào môi trường đại học. Đồng thời, 73,1% sinh viên có người thân hoặc bạn bè tại Huế - yếu tố có thể hỗ trợ tích cực cho quá trình thích ứng ban đầu.

Mẫu nghiên cứu phân bố tương đối đa dạng theo chuyên ngành, trong đó ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành chiếm tỷ lệ cao nhất (23,7%). Về kết quả học tập, đa số sinh viên đạt mức khá trở lên, với 50,9% đạt điểm từ 2 đến dưới 3 và 47,3% đạt điểm từ 3 đến 4. Thời gian tự học chủ yếu từ 1 đến dưới 3 giờ/ngày (47,3%), song vẫn có 15,9% học dưới 1 giờ.

Ngoài ra, 48,1% sinh viên đánh giá môi trường học tập phù hợp; gần 90% có tham gia ngoại khóa ở các mức độ khác nhau. Về tài chính, phần lớn sinh viên nhận hỗ trợ 3-5 triệu đồng/tháng, góp phần đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt.

Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho thấy đa số biến quan sát đạt yêu cầu khi hệ số Alpha > 0,7 và tương quan biến - tổng lớn hơn 0,3. Đồng thời, giá trị Alpha nếu loại biến đều > 0,5, nên 12 biến được giữ lại cho các phân tích tiếp theo. Tuy nhiên, có 3 biến chưa đạt yêu cầu do tương quan biến - tổng thấp (dưới 0,3), gồm: cảm giác lạc lõng, khó kiểm soát cảm xúc và khó thích ứng với áp lực. Các biến này cần được xem xét loại bỏ hoặc điều chỉnh.

Đánh giá của sinh viên về yếu tố Thích ứng về mặt học thuật

Bảng 1: Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên về yếu tố Thích ứng học thuật

Tiêu chí

Bình quân

Tiêu thức

3,93

Giới tính (a)

Quê quán (b)

Cư trú (b)

Có người thân (a)

Ngành học (b)

Trợ cấp (b)

TƯHT1

3,89

NS

NS

*

NS

NS

NS

TƯHT2

3,99

NS

NS

**

NS

NS

NS

TƯHT3

3,86

NS

NS

NS

NS

_

NS

TƯHT4

3,98

NS

NS

NS

NS

_

NS

TƯHT5

4,06

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯHT6

3,99

NS

NS

NS

NS

*

NS

TƯHT7

3,85

NS

NS

NS

NS

NS

_

TƯHT8

4,15

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯHT9

3,95

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯHT10

3,94

NS

NS

*

NS

NS

*

TƯHT11

3,81

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯHT12

3,80

NS

NS

NS

NS

NS

NS

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

Quy ước mức ý nghĩa P: (a): Independent Samples Test (b): ANOVA

• NS: P ≥ 0,05: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• *: 0,01 ≤ P < 0,05: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• **: 0 ≤ P < 0,01: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao giữa các nhóm

_: Không thể kiểm định ANOVA do phương sai không đồng nhất

Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên có mức độ Thích ứng học thuật (TƯHT) khá tốt, với điểm trung bình chung đạt 3,93. Các tiêu chí dao động từ 3,8 đến 4,15, phản ánh khả năng thích nghi tương đối tích cực với môi trường đại học. Trong đó, tiêu chí “dễ dàng tiếp cận tài liệu học tập” đạt cao nhất (4,15), cho thấy sinh viên có nhiều thuận lợi trong học tập, trong khi “tham dự lớp đầy đủ” thấp nhất (3,8), phản ánh một bộ phận sinh viên chưa duy trì thói quen học tập ổn định. Nhìn chung, sinh viên đánh giá cao giảng viên và kết quả học tập của bản thân.

Phân tích cho thấy không có sự khác biệt theo giới tính, quê quán và việc có người thân tại Huế (Sig. > 0,05). Tuy nhiên, theo hình thức cư trú, sinh viên sống cùng người thân theo kịp tiến độ học tốt hơn (Sig. = 0,019) nhưng lại chịu áp lực thi cử cao hơn (Sig. = 0,003), trong khi sinh viên sống độc lập có xu hướng tự chủ hơn. Ngoài ra, sinh viên ở nhà riêng đánh giá khả năng quản lý thời gian tốt hơn (Sig. = 0,036).

Theo ngành học, có sự khác biệt nhẹ về mức độ hài lòng (Sig. = 0,04). Theo mức trợ cấp, sinh viên có tài chính thấp quản lý thời gian kém hiệu quả hơn (Sig. = 0,048), cho thấy yếu tố tài chính có ảnh hưởng đến hiệu quả học tập.

Đánh giá của sinh viên về yếu tố Thích ứng xã hội

Bảng 2: Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên về yếu tố Thích ứng xã hội

Tiêu chí

Bình quân

Tiêu thức

3,93

Giới tính (a)

Quê quán (b)

Cư trú (b)

Có người thân (a)

Ngành học (b)

Trợ cấp (b)

TƯXH1

3,77

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯXH2

3,97

NS

NS

**

NS

NS

NS

TƯXH3

3,90

NS

_

NS

NS

NS

_

TƯXH4

3,81

NS

NS

*

NS

NS

NS

TƯXH5

3,86

NS

NS

NS

NS

NS

_

TƯXH6

4,01

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯXH7

4,05

NS

NS

NS

**

*

NS

TƯXH8

4,14

NS

NS

NS

NS

*

NS

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

Quy ước mức ý nghĩa P: (a): Independent Samples Test (b): ANOVA

• NS: P ≥ 0,05: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• *: 0,01 ≤ P < 0,05: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• **: 0 ≤ P < 0,01: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao giữa các nhóm

_: Không thể kiểm định ANOVA do phương sai không đồng nhất

Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên có mức độ Thích ứng xã hội (TƯXH) khá tốt trong môi trường đại học, với điểm trung bình chung đạt 3,93 (mức tốt). Điều này phản ánh khả năng hòa nhập, xây dựng mối quan hệ và tham gia hoạt động xã hội của sinh viên tương đối tích cực. Trong đó, tiêu chí “có đủ kỹ năng xã hội để thích ứng” đạt điểm cao nhất (4,14), cho thấy phần lớn sinh viên tự tin về khả năng giao tiếp và hợp tác. Các tiêu chí như hài lòng với đời sống xã hội (4,05), tương tác với giảng viên (4,01) và cảm giác thoải mái trong môi trường (3,97) cũng được đánh giá cao. Tuy nhiên, tiêu chí “cảm thấy thích ứng tốt với môi trường đại học” có điểm thấp nhất (3,77), cho thấy vẫn còn một bộ phận sinh viên chưa hoàn toàn hòa nhập.

Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt theo giới tính, quê quán và mức trợ cấp. Tuy nhiên, theo hình thức cư trú, sinh viên ở ký túc xá cảm thấy thoải mái hơn trong giao tiếp (Sig. = 0,001), nhưng lại ít tham gia hoạt động ngoại khóa hơn (Sig. = 0,013). Theo yếu tố người thân, sinh viên không có người thân tại Huế hài lòng hơn với đời sống xã hội (Sig. = 0,004). Theo ngành học, có sự khác biệt về mức độ hài lòng và kỹ năng xã hội (Sig. < 0,05), nhưng nhìn chung mức độ thích ứng xã hội giữa các nhóm vẫn tương đối ổn định.

Đánh giá của sinh viên về yếu tố Thích ứng về mặt cảm xúc

Bảng 3: Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên về yếu tố Thích ứng cảm xúc

Tiêu chí

Bình quân

Tiêu thức

4,07

Giới tính (a)

Quê quán (b)

Cư trú

(b)

Có người thân (a)

Ngành học (b)

Trợ cấp (b)

TƯCX1

4,14

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯCX4

4,08

NS

NS

NS

NS

NS

_

TƯCX5

4,17

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯCX6

4,03

NS

NS

NS

NS

NS

NS

TƯCX7

3,95

NS

NS

NS

NS

NS

NS

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

Quy ước mức ý nghĩa P: (a): Independent Samples Test (b): ANOVA

• NS: P ≥ 0,05: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• *: 0,01 ≤ P < 0,05: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• **: 0 ≤ P < 0,01: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao giữa các nhóm

_: Không thể kiểm định ANOVA do phương sai không đồng nhất

Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên chịu mức độ ảnh hưởng tâm lý khá cao, với giá trị Thích ứng cảm xúc (TƯCX) trung bình chung đạt 4,07, phản ánh tình trạng căng thẳng, lo âu và áp lực trong quá trình học tập và sinh hoạt tại môi trường đại học. Trong đó, tiêu chí “lo lắng về chi phí học tập/sinh hoạt” có điểm cao nhất (4,17), với 84,8% đồng ý, cho thấy áp lực tài chính là vấn đề nổi bật. Các tiêu chí như “căng thẳng, lo âu gần đây” (4,14) và “khó khăn khi sống tự lập” (4,08) cũng đạt mức cao, cho thấy quá trình thích nghi ban đầu gặp nhiều thách thức. Bên cạnh đó, tình trạng “không ngủ ngon” (4,03) phản ánh ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần.

Ngược lại, tiêu chí “sức khỏe tốt” có điểm thấp nhất (3,95), cho thấy một bộ phận sinh viên chưa hài lòng với tình trạng sức khỏe. Kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo các đặc điểm cá nhân (Sig. > 0,05), chứng tỏ các vấn đề tâm lý mang tính phổ biến. Điều này hàm ý cần có các giải pháp hỗ trợ tâm lý toàn diện cho sinh viên năm nhất.

Đánh giá của sinh viên về yếu tố Mức độ cam kết đạt mục tiêu

Bảng 4: Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên về yếu tố Mức độ cam kết đạt mục tiêu

Tiêu chí

Bình quân

Tiêu thức

4,08

Giới tính (a)

Quê quán (b)

Cư trú (b)

Có người thân (a)

Ngành học (b)

Trợ cấp (b)

MTCK1

4,08

NS

NS

NS

NS

NS

**

MTCK2

4,13

NS

NS

NS

NS

NS

NS

MTCK3

4,04

NS

NS

NS

*

NS

*

MTCK4

4,12

NS

NS

NS

NS

NS

**

MTCK5

4,05

NS

NS

NS

NS

NS

NS

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

Quy ước mức ý nghĩa P: (a): Independent Samples Test (b): ANOVA

• NS: P ≥ 0,05: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• *: 0,01 ≤ P < 0,05: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm

• **: 0 ≤ P < 0,01: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao giữa các nhóm

• _: Không thể kiểm định ANOVA do phương sai không đồng nhất

Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên năm nhất có Mức độ cam kết đạt mục tiêu MTCK học tập khá cao, với điểm trung bình các tiêu chí dao động từ 4,04 đến 4,13. Điều này phản ánh sinh viên có định hướng rõ ràng và thái độ tích cực trong việc theo đuổi mục tiêu học tập tại Trường Du lịch, Đại học Huế. Tiêu chí “chưa từng nghĩ đến việc bỏ học” đạt cao nhất (4,13), cho thấy sự ổn định và quyết tâm của đa số sinh viên. Bên cạnh đó, các tiêu chí như “thích học tại trường” (4,12) và “quyết tâm hoàn thành chương trình” cũng được đánh giá cao, khẳng định mức độ gắn kết với nhà trường.

Kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt theo giới tính, quê quán và mức trợ cấp. Tuy nhiên, theo yếu tố người thân, sinh viên có người thân tại Huế ít có xu hướng nghĩ đến việc tạm dừng học (Sig. = 0,026), nhờ sự hỗ trợ tinh thần. Theo mức trợ cấp, có sự khác biệt rõ rệt (Sig. < 0,01), trong đó nhóm nhận 1 đến 3 triệu đồng/tháng có mức độ hài lòng và gắn bó cao nhất, trong khi nhóm trợ cấp cao hơn có xu hướng kỳ vọng lớn hơn, dẫn đến mức độ hài lòng thấp hơn.

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả khảo sát 283 sinh viên năm nhất khóa K58 tại Trường Du lịch, Đại học Huế cho thấy mức độ thích ứng với môi trường đại học được phản ánh qua 4 nhóm yếu tố: Thích ứng học thuật, Thích ứng xã hội, Thích ứng cảm xúc và Cam kết mục tiêu học tập. Các yếu tố này thể hiện quá trình chuyển tiếp đòi hỏi sinh viên phải điều chỉnh về nhận thức, hành vi và tâm lý.

Thứ nhất, về Thích ứng học thuật, sinh viên có mức độ thích ứng khá tốt với điểm trung bình 3,93. Các tiêu chí như tiếp cận tài liệu, hài lòng với giảng viên và kết quả học tập đều được đánh giá tích cực. Tuy nhiên, việc tham gia lớp học chưa thực sự đều đặn. Kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt theo hình thức cư trú và mức trợ cấp, trong đó sinh viên sống cùng người thân thích nghi tốt hơn với tiến độ học tập nhưng lại gặp áp lực thi cử cao hơn; sinh viên có trợ cấp thấp gặp hạn chế trong quản lý thời gian học.

Thứ hai, về Thích ứng xã hội, sinh viên đạt mức khá tốt với điểm trung bình 3,93. sinh viên nhìn chung tự tin về kỹ năng giao tiếp và khả năng hòa nhập. Tuy nhiên, một bộ phận vẫn chưa thực sự cảm thấy thích nghi hoàn toàn với môi trường mới. Sự khác biệt được ghi nhận theo hình thức cư trú, việc có người thân tại Huế và ngành học, cho thấy môi trường sống và hỗ trợ xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình hòa nhập của sinh viên.

Thứ ba, về Thích ứng cảm xúc, kết quả nghiên cứu ghi nhận điểm trung bình chung ở mức khá cao (4,07), phản ánh những áp lực tâm lý và tình trạng căng thẳng mà sinh viên năm nhất phải đối mặt là tương đối phổ biến. Trong đó, áp lực từ việc “lo lắng về chi phí học tập/sinh hoạt” là rào cản lớn nhất đối với sinh viên (điểm trung bình đạt 4,17, với 84,8% ý kiến đồng ý). Điều này hoàn toàn phù hợp thực tế khi phần lớn mẫu khảo sát (51,2%) phải sống tự lập bằng hình thức thuê trọ bên ngoài, dẫn đến các gánh nặng về chi tiêu. Bên cạnh đó, các biểu hiện như căng thẳng, lo âu (4,14) và hiện tượng mất ngủ (4,03) là những tín hiệu cảnh báo về sức khỏe tinh thần của sinh viên trong giai đoạn chuyển đổi môi trường. Việc không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm đặc điểm cá nhân (Sig. > 0,05) khẳng định áp lực tâm lý, cảm xúc là một hệ quả chung mang tính quy luật của quá trình chuyển tiếp từ phổ thông lên đại học, đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Nhà trường về việc thiết lập các kênh hỗ trợ, tư vấn tâm lý học đường toàn diện.

Thứ tư, về Mức độ cam kết đạt mục tiêu, điểm số dao động ở mức rất cao (từ 4,04 đến 4,13) thể hiện một tín hiệu tích cực về tinh thần học tập và sự gắn bó của sinh viên đối với Trường Du lịch, Đại học Huế. Tiêu chí “chưa từng nghĩ đến việc bỏ học” đạt điểm cao nhất (4,13) cùng mức đánh giá cao đối với sự “quyết tâm hoàn thành chương trình” và “thích học tại trường” (4,12) cho thấy sinh viên có định hướng nghề nghiệp rõ ràng và động lực tự thân mạnh mẽ.

KẾT LUẬN

Thông qua kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu, nghiên cứu đã xác định 4 nhóm yếu tố cơ bản phản ánh quá trình thích ứng của sinh viên, bao gồm: thích ứng học thuật, thích ứng xã hội, Thích ứng cảm xúc và Mức độ cam kết đạt mục tiêu. Kết quả cho thấy mỗi nhóm yếu tố đóng vai trò khác nhau trong giai đoạn chuyển tiếp từ bậc trung học lên đại học, đồng thời chịu sự tác động nhất định từ các điều kiện cá nhân và môi trường học tập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cho sinh viên, giảng viên và nhà trường trong việc nhận diện nhu cầu hỗ trợ, từ đó xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ thích ứng phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả giáo dục đại học.

Tài liệu tham khảo:

1. Baker, R. W., & Siryk, B. (1984). Measuring adjustment to college. Journal of Counseling Psychology, 31(2), 179-189. https://doi.org/10.1037/0022-0167.31.2.179

2. Clinciu, A. I. (2012). Adaptation and stress for the first year university students. Procedia - Social and Behavioral Sciences, 33, 718-722. https://doi.org/10.1016/j.sbspro.2012.01.215

3. Hoàng, T. H., & Bùi, V. V. (2013). Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Đà Nẵng), 2(63), 24-29.

4. Nguyễn, Đ. Q. (2014). Thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Nguyễn, H. T., & Huỳnh, L. U. M. (2022). Thực trạng thích ứng của sinh viên năm thứ nhất Khoa Kinh tế với môi trường Đại học Đồng Tháp. TNU Journal of Science and Technology, 227(06), 43-49. https://doi.org/10.34238/tnu-jst.5645

6. Pennebaker, J. W., Colder, M., & Sharp, L. K. (1990). Accelerating the coping process. Journal of Personality and Social Psychology, 58(3), 528-537. https://doi.org/10.1037/0022-3514.58.3.528

7. Tinto, V. (1993). Leaving college: Rethinking the causes and cures of student attrition (2nd ed.). University of Chicago Press.

8. Võ, V. V. (2018). Đo lường sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất với môi trường đại học. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Giáo dục, 34(3), 1-10. https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4144

9. Vũ, M. Đ. (2006). Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa Công tác xã hội và phát triển cộng đồng trường Đại học Đà Lạt. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/6/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026

Các tin khác

Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật trong kinh doanh dịch vụ giáo dục trực tuyến - Thực tiễn tại Việt Nam

Số hóa hoạt động giáo dục đang làm thay đổi không chỉ phương thức dạy và học mà cả cách thức dịch vụ giáo dục được đưa ra thị trường. Sản phẩm công nghệ thông minh, tính năng đa dạng do đó việc tiếp cận dịch vụ vì thế được mở rộng đáng kể
Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường Nam Á trong thời gian tới

Với dân số khổng lồ và tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định (trung bình 4-6%/năm), thị trường Nam Á, đang nổi lên như một thị trường nhiều tiềm năng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam
Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Phân tích ý định quay trở lại TP. Hồ Chí Minh của du khách quốc tế: Mô hình tích hợp dựa trên Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Trong bối cảnh cạnh tranh điểm đến đô thị giữa các thành phố lớn trong khu vực ngày càng gay gắt, việc thấu hiểu cơ chế hình thành ý định quay trở lại của du khách quốc tế trở thành vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp thiết đối với công tác quản trị điểm đến.
Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Cơ sở lý thuyết về trải nghiệm, cảm xúc du khách và doanh thu điểm đến: Vai trò điều tiết của thời tiết và đề xuất mô hình nghiên cứu tại TP. Huế

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về kinh tế du lịch chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu trong nước tích hợp đồng thời chất lượng trải nghiệm, cảm xúc, sự hài lòng, vai trò điều tiết của thời tiết và kết quả kinh tế tại một điểm đến di sản. Nhìn chung, các nhóm nghiên cứu về kinh tế học trải nghiệm, tâm lý học cảm xúc và tác động của thời tiết đã cung cấp những góc nhìn bổ sung nhưng vẫn được xem xét riêng lẻ.
Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư

Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư

Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi đáng kể cách người tiêu dùng tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn sản phẩm thời trang.
Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025

Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số hành chính công và phát triển đô thị thông minh đã trở thành công cụ đột phá nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính công khai, minh bạch cho doanh nghiệp.
Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Sự phát triển của tài chính số và thương mại điện tử thúc đẩy dịch vụ mua trước, trả sau ngày càng phổ biến, tạo thêm lựa chọn tín dụng cho người tiêu dùng và hỗ trợ mở rộng thanh toán số.
Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Những thay đổi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC đối với hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán cho thấy sự điều chỉnh đồng thời ở các khâu phân loại, ghi nhận, hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán.
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang trở thành định hướng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Ở Việt Nam, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 nhấn mạnh việc gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai

Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, khu vực công nói chung và lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công nói riêng đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức phục vụ, nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động.