Kinh nghiệm quốc tế về tác động của chuyển đổi kép đối với tăng trưởng kinh tế và bài học cho Việt Nam
ThS. Vũ Hoàng Trung
Email: [email protected]
ThS. Nguyễn Đức Đoàn
ThS. Bùi Thị Hải Bình
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính
Tóm tắt
Chuyển đổi kép (kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh), có tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua nâng cao năng suất, cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào mức độ tích hợp công nghệ, năng lực doanh nghiệp và điều kiện thực hiện. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu có chọn lọc kết hợp phân tích so sánh kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm làm rõ cơ chế tác động, điều kiện thực hiện và khả năng vận dụng tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp liên quan nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và thúc đẩy phát triển bền vững.
Từ khóa: Chuyển đổi kép, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tăng trưởng kinh tế, kinh nghiệm quốc tế
Abstract
The twin transition, which combines digital and green transitions, has the potential to promote economic growth by increasing productivity, improving resource efficiency, and fostering innovation. However, its effectiveness depends on the degree of technological integration, business capabilities, and implementation conditions. This study employs a selective literature review combined with a comparative analysis of experiences in the European Union (EU), the United States, and China to clarify the mechanisms of impact, implementation conditions, and potential applications in Viet Nam. On this basis, the study proposes a set of related solutions to help improve the quality of economic growth and promote sustainable development.
Keywords: Twin transition, digital transition, green transition, economic growth, international experience
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, cạnh tranh về năng suất và công nghệ đang diễn ra đồng thời với yêu cầu giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và bảo đảm an ninh năng lượng. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và tự động hóa mở rộng khả năng đổi mới sản xuất, nhưng cũng tạo thêm sức ép lên hạ tầng điện. Theo IEA (2026), các trung tâm dữ liệu toàn cầu tiêu thụ khoảng 485 TWh điện năm 2025, tăng 17%; nhu cầu này được dự báo đạt khoảng 950 TWh năm 2030, tương đương gần 3% tiêu thụ điện toàn cầu. Những con số này cho thấy, mở rộng năng lực số cần gắn với hiệu quả năng lượng và lựa chọn nguồn điện phù hợp, nếu không chi phí tài nguyên có thể bù trừ một phần lợi ích kinh tế của công nghệ.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi kép trở thành hướng tiếp cận nhằm kết nối đổi mới công nghệ với mục tiêu môi trường. Tuy nhiên, mức độ tích hợp còn khác biệt giữa các nền kinh tế. Từ khảo sát EIBIS năm 2021, Veugelers và cộng sự (2023) cho thấy, 66% doanh nghiệp Hoa Kỳ áp dụng công nghệ số tiên tiến, cao hơn mức 62% của EU, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện đồng thời chuyển đổi xanh và số chỉ đạt 23%, so với 30% tại EU. Sự khác biệt gợi mở rằng, năng lực số chưa đủ để bảo đảm chuyển đổi xanh; kết quả còn phụ thuộc vào động lực đầu tư, năng lực quản trị và cách phối hợp chính sách. Vì vậy, kinh nghiệm quốc tế cần được xem xét cả ở thành quả và các điều kiện tạo ra thành quả đó.
Ở Việt Nam, yêu cầu duy trì tăng trưởng cao đặt ra nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động và tài nguyên. Theo Cục Thống kê (2026), năm 2025 GDP ước tăng 8,02%, giá trị tăng thêm của ngành chế biến, chế tạo tăng 9,97%; năng suất lao động theo giá so sánh tăng 6,83%. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,2%, cho thấy cần tiếp tục củng cố nền tảng nhân lực cho đổi mới công nghệ. Chỉ tiêu này không trực tiếp đo lường kỹ năng số, nhưng phản ánh một điều kiện quan trọng cần xem xét khi tổ chức chuyển đổi. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chuyển đà mở rộng sản xuất thành cải thiện năng suất bền vững, đồng thời giảm mức sử dụng năng lượng và tài nguyên trên một đơn vị giá trị tạo ra.
Áp lực từ môi trường khiến yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng càng trở nên cấp thiết. World Bank (2022) ước tính, nếu thiếu các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ phù hợp, thiệt hại kinh tế do biến đổi khí hậu tại Việt Nam có thể tương đương 12-14,5% GDP mỗi năm vào năm 2050. Đây là dự báo có điều kiện, không phải tổn thất đã xảy ra. Về định hướng chính sách, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tạo cơ sở để gắn kết 2 quá trình (Thủ tướng Chính phủ, 2021; Bộ Chính trị, 2024). Thách thức thực hiện là chuyển các định hướng đó thành quyết định đầu tư và thay đổi quy trình có thể đo lường ở doanh nghiệp, ngành và địa phương.
Trong khi đó, bằng chứng trong nước chủ yếu mới làm rõ từng chiều của quá trình chuyển đổi. Lê Hải Trung và cộng sự (2025) ghi nhận vai trò tích cực của mức độ sẵn sàng về nhân lực và ứng dụng công nghệ thông tin trong khu vực công đối với tăng trưởng địa phương. Kết quả này chưa trả lời đầy đủ khi nào kết hợp số và xanh tạo lợi ích bổ sung, cũng như chi phí và điều kiện để đạt được lợi ích đó.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu này phân tích kinh nghiệm quốc tế nhằm làm rõ cơ chế chuyển đổi kép hỗ trợ tăng trưởng, các điều kiện thực hiện và bài học phù hợp với Việt Nam, tránh đồng nhất mở rộng ứng dụng công nghệ với cải thiện đồng thời kết quả kinh tế và môi trường.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan nghiên cứu
Chuyển đổi kép được hiểu là quá trình phối hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, trong đó việc lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất và thiết kế chính sách hướng tới khai thác tính bổ trợ và kiểm soát các đánh đổi giữa 2 quá trình. Diodato và cộng sự (2023) nhấn mạnh mối liên hệ giữa đổi mới công nghiệp với các thách thức kinh tế, xã hội và bất bình đẳng. Cách tiếp cận này rộng hơn việc doanh nghiệp đồng thời mua thiết bị số và đầu tư tiết kiệm năng lượng. “Bản sao số” (digital twin) chỉ là một công nghệ có thể phục vụ chuyển đổi kép, không đồng nghĩa với khái niệm chuyển đổi kép (twin transition).
Các nghiên cứu hình thành 3 hướng chính.
Hướng thứ nhất đánh giá kết quả kinh tế ở doanh nghiệp: Marrocu và cộng sự (2026) phân tích tác động của dự án xanh, số và tích hợp tại Italy; Veugelers và cộng sự (2023) so sánh mức độ thực hiện chuyển đổi của doanh nghiệp EU và Hoa Kỳ.
Hướng thứ hai xem xét kết quả môi trường và tính bổ trợ công nghệ: Bianchini và cộng sự (2023) nghiên cứu phát thải công nghiệp tại các vùng châu Âu; Wu và cộng sự (2025) phân tích kinh tế số và cường độ carbon tại Trung Quốc.
Hướng thứ ba làm rõ điều kiện thực hiện, gồm điều phối chính sách theo vùng (Brueck và cộng sự, 2025) và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa (Abilakimova và cộng sự, 2025).
Từ đó, có thể nhận diện các kênh hỗ trợ tăng trưởng: nâng năng suất nhờ tối ưu quy trình và sử dụng đầu vào; thúc đẩy đổi mới sản phẩm và mở rộng thị trường; tái phân bổ vốn, lao động sang hoạt động hiệu quả hơn; và giảm tổn thất tài nguyên, rủi ro môi trường. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu, thiếu kỹ năng và hiệu ứng bật lại có thể làm suy giảm lợi ích. Hiệu ứng bật lại xuất hiện khi hiệu quả sử dụng tài nguyên được cải thiện làm giảm chi phí, kích thích mở rộng tiêu dùng hoặc sản xuất và bù trừ một phần mức tiết kiệm đạt được (Muñoz-de-Bustillo Llorente, 2024).
Khoảng trống đáng chú ý là các nghiên cứu sử dụng thước đo khác nhau, từ doanh thu, giá trị gia tăng đến phát thải và mức độ áp dụng công nghệ. Vì vậy, không thể đồng nhất tăng doanh thu với tăng năng suất, hoặc giảm cường độ carbon với tăng trưởng GDP. Nghiên cứu kết nối các bằng chứng theo chuỗi từ công cụ chính sách, hành vi đầu tư đến kết quả trung gian và khả năng đóng góp vào tăng trưởng, thay vì suy rộng trực tiếp một hệ số cấp doanh nghiệp cho toàn bộ nền kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng tổng quan tài liệu có chọn lọc kết hợp phân tích so sánh trường hợp. Tài liệu được lựa chọn theo mức độ liên quan trực tiếp đến tương tác số - xanh, sự rõ ràng về phương pháp và chỉ tiêu kết quả, cùng khả năng rút ra bài học cho Việt Nam. Các công trình công bố giai đoạn 2023-2026 được sử dụng làm bằng chứng chính; nghiên cứu trong nước cung cấp cơ sở đối chiếu. Đây là tổng quan diễn giải, không phải tổng quan hệ thống theo PRISMA hay phân tích gộp. EU và Hoa Kỳ được lựa chọn để so sánh cấu trúc đầu tư doanh nghiệp; Italy cung cấp đánh giá chương trình tài trợ; Trung Quốc thể hiện sự khác biệt trong thực hiện chính sách giữa các địa phương.
Mỗi trường hợp được xem xét theo 4 nội dung: cách tổ chức chuyển đổi, cơ chế tác động, kết quả được ghi nhận và điều kiện vận dụng. Nghiên cứu phân biệt đánh giá định lượng có nhóm đối chứng với thống kê mô tả và phân tích văn bản chính sách; sử dụng kết quả môi trường để nhận diện chất lượng tăng trưởng, không coi đó là ước lượng tác động GDP. Các bài học được rút ra bằng đối chiếu cơ chế và điều kiện thực hiện, không sao chép nguyên trạng mô hình nước ngoài.
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI KÉP ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu về tích hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong đầu tư
Kinh nghiệm châu Âu cho thấy, chất lượng thiết kế dự án có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả kinh tế. Marrocu và cộng sự (2026) nghiên cứu các sáng kiến được Quỹ Phát triển vùng châu Âu (ERDF) tài trợ tại Italy trong giai đoạn 2014-2020, kết hợp dữ liệu dự án OpenCoesione với thông tin doanh nghiệp. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt với thời điểm tham gia khác nhau để đánh giá giá trị gia tăng, việc làm và năng suất lao động. Cách tiếp cận này cung cấp bằng chứng về kết quả của việc hỗ trợ đầu tư, thay vì chỉ mô tả số lượng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ.
Trong phân tích theo loại dự án, hệ số tác động tổng hợp đối với giá trị gia tăng của nhóm tích hợp số - xanh là 0,317, cao hơn hệ số 0,204 của nhóm xanh và 0,156 của nhóm số; các hệ số tổng hợp đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Đây là hệ số trên biến kết quả đã biến đổi, không phải mức tăng 31,7%, 20,4% và 15,6% của GDP. Đồng thời, chênh lệch độ lớn giữa các hệ số chưa tự nó chứng minh mức vượt trội có ý nghĩa thống kê giữa các loại dự án. Kết quả ủng hộ triển vọng của đầu tư tích hợp, nhưng cần diễn giải trong phạm vi mẫu, cách phân loại dự án và giả định của phương pháp đánh giá.
Về cơ chế, dữ liệu vận hành giúp doanh nghiệp phát hiện thất thoát năng lượng, giảm thời gian ngừng máy và cải thiện chất lượng sản phẩm; thiết bị và quy trình xanh tạo điều kiện hiện thực hóa các điều chỉnh đó. Sự kết hợp này có thể cải thiện giá trị gia tăng thông qua hiệu quả sử dụng đầu vào, thay vì chỉ mở rộng quy mô vốn. Tác động việc làm trong nghiên cứu xuất hiện dần, gợi ý rằng, doanh nghiệp có thể khai thác tốt hơn nguồn lực hiện có trước khi tăng tuyển dụng. Vì vậy, đánh giá hỗ trợ đầu tư cần theo dõi cả kết quả sau khi dự án hoàn thành, không chỉ giải ngân hoặc số thiết bị được lắp đặt.
Tuy nhiên, số hóa không mặc nhiên cải thiện môi trường. Bianchini và cộng sự (2023), sử dụng dữ liệu sáng chế và phát thải từ các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm cao tại các vùng đô thị của EU và Vương quốc Anh giai đoạn 2007-2016, ghi nhận công nghệ môi trường góp phần giảm phát thải, còn phát triển công nghệ số có thể làm phát thải tăng. Lợi ích của công nghệ môi trường lớn hơn ở vùng có nền tảng số mạnh; tác động bất lợi của công nghệ số giảm ở nơi có năng lực công nghệ xanh tốt. Kinh nghiệm rút ra là lựa chọn đầu tư phải xét đồng thời hiệu quả kinh tế và dấu chân môi trường, kể cả điện năng của hạ tầng số.
So sánh mức độ chuyển đổi kép của doanh nghiệp EU và Hoa Kỳ
Veugelers và cộng sự (2023) sử dụng Điều tra đầu tư của Ngân hàng Đầu tư châu Âu năm 2021 (EIBIS), gồm 11.920 doanh nghiệp EU và 802 doanh nghiệp Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, Hoa Kỳ có tỷ lệ áp dụng công nghệ số tiên tiến cao hơn, nhưng EU có tỷ lệ đầu tư xanh và thực hiện đồng thời cả 2 quá trình cao hơn (Bảng). Sự khác biệt này cho thấy lợi thế số và mức độ tích hợp số - xanh là 2 đặc điểm cần đánh giá riêng.
Bảng: Một số chỉ tiêu chuyển đổi số và xanh của doanh nghiệp EU và Hoa Kỳ
|
Chỉ tiêu trong khảo sát EIBIS 2021 |
EU (%) |
Hoa Kỳ (%) |
|---|---|---|
|
Áp dụng công nghệ số tiên tiến |
62 |
66 |
|
Đã đầu tư ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải |
42 |
28 |
|
Thuộc nhóm thực hiện cả chuyển đổi xanh và số |
30 |
23 |
Các hàng phản ánh những chỉ tiêu khác nhau và không cộng thành 100%.
Nguồn: Veugelers và cộng sự (2023), dữ liệu EIBIS 2021
Nghiên cứu cũng ghi nhận doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi kép có xu hướng áp dụng thực hành quản trị tốt hơn và theo dõi mục tiêu năng lượng, phát thải thường xuyên hơn. Doanh nghiệp lớn có khả năng kết hợp đầu tư xanh và số cao hơn doanh nghiệp nhỏ. Đây là các mối liên hệ quan sát được, chưa xác lập quan hệ nhân quả: năng lực quản trị có thể thúc đẩy chuyển đổi, đồng thời doanh nghiệp có nguồn lực tốt cũng dễ đầu tư vào cả 2 lĩnh vực.
Kinh nghiệm so sánh gợi mở rằng, chính sách phát triển công nghệ cần đi kèm động lực kinh tế và năng lực tổ chức để doanh nghiệp sử dụng công nghệ cho mục tiêu xanh. Một nền kinh tế có mức độ số hóa cao vẫn có thể thiếu đầu tư giảm phát thải. Ngược lại, yêu cầu môi trường chỉ chuyển thành cơ hội năng suất khi doanh nghiệp có khả năng đo lường, đổi mới quy trình và tiếp cận nguồn vốn. Vì vậy, hỗ trợ phần mềm hoặc máy móc đơn lẻ khó giải quyết đầy đủ những rào cản của chuyển đổi kép.
Tổng quan 42 nghiên cứu về doanh nghiệp chế tạo nhỏ và vừa tại châu Âu của Abilakimova và cộng sự (2025) nhận diện 20 rào cản và đề xuất tiến trình từ nhận thức, chấp nhận, sẵn sàng đến triển khai và sau triển khai. Kinh nghiệm rút ra là hỗ trợ phải phù hợp với năng lực hấp thụ. Với doanh nghiệp còn hạn chế về dữ liệu và quản trị, bước đầu cần xác định điểm lãng phí, chuẩn hóa thông tin và lựa chọn giải pháp có khả năng hoàn vốn; công nghệ phức tạp chỉ phù hợp khi các điều kiện vận hành đã được bảo đảm.
Kinh nghiệm của Trung Quốc về thực hiện chuyển đổi kép theo điều kiện địa phương
Brueck và cộng sự (2025) phân tích văn bản chính sách quốc gia và 3 trường hợp Thượng Hải, Vũ Hán, Hàng Châu. Nghiên cứu cho thấy, trong phạm vi tài liệu được khảo sát, mục tiêu số và xanh chưa được tích hợp toàn diện ở cấp quốc gia, còn địa phương triển khai theo những cách khác nhau. Thượng Hải chủ yếu thực hiện định hướng quốc gia với mức điều chỉnh hạn chế; Vũ Hán chú trọng củng cố năng lực đổi mới và hạ tầng; Hàng Châu lựa chọn, điều chỉnh mục tiêu và công cụ theo hệ sinh thái doanh nghiệp và nền tảng số của địa phương.
Sự khác biệt phản ánh điều kiện tổ chức thực hiện. Địa phương có doanh nghiệp công nghệ mạnh, mạng lưới đổi mới và khả năng chia sẻ dữ liệu có thể phát triển ứng dụng quản lý môi trường số sâu hơn. Nơi năng lực còn hạn chế cần đầu tư nền tảng trước khi mở rộng giải pháp tích hợp. Các khu vực và dự án thí điểm tạo không gian thử nghiệm, nhưng phân tích văn bản chính sách chưa chứng minh các mô hình đó đã làm tăng GDP hoặc giảm phát thải bao nhiêu. Giá trị của trường hợp Trung Quốc nằm ở bài học về sự phù hợp giữa công cụ chính sách và năng lực địa phương.
Bổ sung bằng chứng định lượng, Wu và cộng sự (2025) sử dụng dữ liệu cấp tỉnh Trung Quốc giai đoạn 2012-2023, kết hợp phân tích ngưỡng, mô hình không gian và cơ chế trung gian. Kết quả chỉ ra vai trò của kinh tế số trong giảm cường độ carbon thông qua hiệu quả năng lượng và điều chỉnh cơ cấu sản xuất; đồng thời ghi nhận tính phi tuyến và hiệu ứng lan tỏa giữa các địa phương. Do biến kết quả là phát thải trên một đơn vị GDP, nghiên cứu không trực tiếp ước lượng tác động lên tốc độ tăng trưởng; cường độ carbon giảm cũng chưa đồng nghĩa với tổng phát thải giảm.
Từ 2 nghiên cứu, có thể rút ra yêu cầu phối hợp theo vùng và theo mức độ sẵn sàng. Hạ tầng dữ liệu, chuỗi cung ứng và hệ thống năng lượng vượt ra ngoài địa giới hành chính, nên lợi ích của đầu tư địa phương có thể lan sang khu vực lân cận. Nếu mỗi nơi phát triển nền tảng riêng mà thiếu khả năng kết nối, chi phí đầu tư có thể tăng trong khi lợi ích lan tỏa bị hạn chế. Đây là cơ sở để cân nhắc hạ tầng dùng chung và cơ chế phối hợp liên địa phương khi tổ chức chuyển đổi kép.
HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đóng góp của chuyển đổi kép vào tăng trưởng phụ thuộc vào khả năng biến công nghệ thành hiệu quả sản xuất và đổi mới, đồng thời kiểm soát chi phí môi trường. Với Việt Nam, vận dụng kinh nghiệm cần chú trọng năng lực hấp thụ của doanh nghiệp, sự khác biệt giữa địa phương và khả năng đo lường kết quả. Năm nhóm kinh nghiệm sau được đề xuất từ các cơ chế đã phân tích.
Một là, tích hợp mục tiêu số và xanh ngay từ thiết kế hỗ trợ đầu tư. Từ kinh nghiệm Italy, Việt Nam có thể xây dựng tiêu chí lựa chọn dự án dựa trên mối liên hệ rõ giữa ứng dụng số, cải thiện năng suất và tiết kiệm tài nguyên. Chẳng hạn, dự án quản lý năng lượng trong nhà máy cần xác định dữ liệu đầu vào, thay đổi quy trình, mức tiết kiệm kỳ vọng và trách nhiệm vận hành sau đầu tư. Hỗ trợ công nên có điều kiện về kết quả và phần vốn đối ứng phù hợp, thay vì chỉ căn cứ vào giá trị thiết bị. Các cơ quan quản lý cần phối hợp để tránh một doanh nghiệp phải xây dựng 2 hồ sơ và 2 hệ thống báo cáo cho cùng một quá trình đổi mới.
Hai là, ưu tiên nền tảng dữ liệu và năng lượng để nâng hiệu quả đầu tư. Bằng chứng châu Âu cảnh báo rằng, hạ tầng số có thể làm tăng phát thải nếu thiếu điều kiện xanh tương ứng. Vì vậy, dự án số cần đánh giá nhu cầu điện, vòng đời thiết bị và khả năng xử lý chất thải. Đồng thời, nên phát triển bộ dữ liệu, chuẩn kết nối và công cụ đo lường có thể dùng chung, giúp doanh nghiệp theo dõi năng lượng, vật liệu và phát thải mà không phải tự xây dựng toàn bộ hệ thống. Việc lựa chọn nền tảng cần quan tâm khả năng chuyển đổi nhà cung cấp, an toàn dữ liệu và chi phí duy trì, tránh phụ thuộc vào giải pháp vượt quá năng lực vận hành.
Ba là, tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo mức độ sẵn sàng. Kinh nghiệm EU và Hoa Kỳ cho thấy, doanh nghiệp có quy mô và quản trị tốt dễ thực hiện chuyển đổi kép hơn. Việt Nam cần kết hợp tư vấn chẩn đoán, đào tạo, thử nghiệm công nghệ và tiếp cận tài chính. Doanh nghiệp ở giai đoạn đầu nên được hỗ trợ chuẩn hóa dữ liệu, kiểm kê sử dụng năng lượng và lựa chọn hạng mục có hiệu quả thiết thực; doanh nghiệp đã có nền tảng có thể tiếp cận giải pháp tích hợp cao hơn. Liên kết với doanh nghiệp đầu chuỗi có thể giúp xác định yêu cầu thị trường, nhưng cần cơ chế chia sẻ chi phí và hỗ trợ nhà cung ứng nhỏ, tránh chuyển toàn bộ gánh nặng tuân thủ xuống các đơn vị yếu hơn.
Bốn là, phân hóa lộ trình địa phương và tăng phối hợp theo vùng. Kinh nghiệm của Trung Quốc gợi ý duy trì mục tiêu chung nhưng cho phép lựa chọn công cụ theo cơ cấu ngành và năng lực đổi mới. Địa phương có nền tảng công nghiệp và công nghệ có thể thử nghiệm quản trị năng lượng, truy xuất dữ liệu môi trường trong chuỗi sản xuất; địa phương còn hạn chế nên ưu tiên kỹ năng, kết nối dữ liệu và dịch vụ tư vấn cơ bản. Thí điểm cần có đường cơ sở, thời hạn đánh giá và tiêu chí nhân rộng. Các hạng mục hạ tầng dùng chung nên được xem xét ở quy mô liên địa phương nhằm khai thác lan tỏa và hạn chế đầu tư trùng lặp.
Năm là, gắn chuyển đổi kép với phát triển kỹ năng và đánh giá tác động thực chất. Công nghệ chỉ cải thiện năng suất khi người lao động và người quản lý biết vận hành, sử dụng dữ liệu và điều chỉnh quy trình. Do đó, kinh phí đào tạo và hỗ trợ thích ứng cần được tính trong thiết kế dự án. Bộ chỉ tiêu theo dõi nên kết hợp giá trị gia tăng thực, năng suất lao động, mức sử dụng năng lượng, tổng phát thải và chất lượng việc làm; không chỉ đếm số doanh nghiệp mua phần mềm hoặc lắp thiết bị. Khi nhân rộng chương trình, cần thu thập dữ liệu trước và sau can thiệp, lựa chọn nhóm so sánh phù hợp và xem xét độ trễ kết quả. Cách làm này giúp xác định phần cải thiện do chính sách tạo ra, đồng thời phát hiện hiệu ứng bật lại và chi phí chuyển đổi.
Việc vận dụng có chọn lọc những kinh nghiệm quốc tế nêu trên, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của Việt Nam có thể góp phần phát huy vai trò của chuyển đổi kép như một động lực quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Đối với doanh nghiệp, sự kết hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình sản xuất, tiết giảm chi phí, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ở cấp độ nền kinh tế, chuyển đổi kép có thể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hình thành các ngành và động lực tăng trưởng mới, nâng cao hiệu quả đầu tư, đồng thời giảm cường độ phát thải và tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc. Trên cơ sở đó, việc thúc đẩy chuyển đổi kép gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể tạo thêm dư địa tăng trưởng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số của Việt Nam trong những năm tới, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng nhanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững trong dài hạn.
KẾT LUẬN
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, chuyển đổi kép có tiềm năng tạo động lực tăng trưởng kinh tế thông qua nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình này không chỉ phụ thuộc vào mức độ ứng dụng công nghệ, mà còn chịu tác động của năng lực doanh nghiệp, chất lượng thể chế và sự phối hợp chính sách. Kinh nghiệm từ EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc cho thấy, việc tích hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cần gắn với điều kiện phát triển và năng lực thực hiện của từng quốc gia, địa phương.
Đối với Việt Nam, việc vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế cần tập trung thúc đẩy đầu tư tích hợp số - xanh, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp và hoàn thiện cơ chế phối hợp chính sách. Qua đó, chuyển đổi kép có thể góp phần nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, cải thiện hiệu quả đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo ra các động lực tăng trưởng mới, hướng tới thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số gắn với phát triển bền vững. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, lượng hóa tác động tương tác giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Tài liệu tham khảo:
1. Abilakimova, A., Bauters, M., & Ogunyemi, A. A. (2025). Systematic literature review of digital and green transformation of manufacturing SMEs in Europe. Production & Manufacturing Research, 13(1), Article 2443166. https://doi.org/10.1080/21693277.2024.2443166
2. Bianchini, S., Damioli, G., & Ghisetti, C. (2023). The environmental effects of the “twin” green and digital transition in European regions. Environmental and Resource Economics, 84, 877-918. https://doi.org/10.1007/s10640-022-00741-7
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Brueck, C., Losacker, S., & Liefner, I. (2025). China’s digital and green (twin) transition: Insights from national and regional innovation policies. Regional Studies, 59(1), Article 2384411. https://doi.org/10.1080/00343404.2024.2384411
5. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/
6. Diodato, D., Huergo, E., Moncada-Paternò-Castello, P., Rentocchini, F., & Timmermans, B. (2023). Introduction to the special issue on “the twin (digital and green) transition: Handling the economic and social challenges”. Industry and Innovation, 30(7), 755-765. https://doi.org/10.1080/13662716.2023.2254272
7. International Energy Agency - IEA (2026). Key questions on energy and AI. https://www.iea.org/reports/key-questions-on-energy-and-ai
8. Lê Hải Trung, Trần Trung Dũng, Lương Minh Hương, & Lê Minh Thúy (2025). Tác động của chuyển đổi số tới tăng trưởng kinh tế địa phương tại Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (332), 22-31. https://doi.org/10.33301/JED.VI.2045
9. Marrocu, E., Paci, R., & Serafini, L. (2026). Leveraging the twin transition: The impact of green and digital investment on firms’ performance. Economics of Innovation and New Technology. Advance online publication. https://doi.org/10.1080/10438599.2025.2612614
10. Muñoz-de-Bustillo Llorente, R. (2024). A critical review of the digital and green twin transitions: Implications, synergies and trade-offs (JRC Working Papers Series on Labour, Education and Technology, No. 2024/07; JRC140036). European Commission, Joint Research Centre.
11. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
12. Veugelers, R., Faivre, C., Rückert, D., & Weiss, C. (2023). The green and digital twin transition: EU vs US firms. Intereconomics, 58(1), 56-62. https://doi.org/10.2478/ie-2023-0010
13. World Bank (2022). Key highlights: Country climate and development report for Vietnam. https://www.worldbank.org/en/brief/2022/07/01/key-highlights-country-climate-and-development-report-for-vietnam
14. Wu, B., Ma, W., & Zhao, Q. (2025). Digital economy and urban green transformation. International Review of Financial Analysis, 104, Article 104286. https://doi.org/10.1016/j.irfa.2025.104286
| Ngày nhận bài: 15/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/9/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026 |
Các tin khác
Phát triển kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm chế biến thủy hải sản tại tỉnh An Giang: Thực trạng và giải pháp
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả công tác kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh
Thu hút FDI và nâng cao năng lực liên kết của doanh nghiệp trong nước tại tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng và giải pháp
Cấu trúc các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua mỹ phẩm nội địa của Gen Z trên nền tảng TikTok: Bằng chứng thực nghiệm tại Hà Nội
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính cá nhân tại Việt Nam
Phát triển năng lượng tái tạo tại Mexico và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Các yếu tố hình thành cảm nhận về bổn phận đối với tổ chức của người lao động: Nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng số của nguồn nhân lực logistics tại TP. Hồ Chí Minh