Hiệu quả chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Bắc Ninh giai đoạn 2016-2025: Bằng chứng từ chỉ số PCI và các chương trình nâng cao năng lực doanh nghiệp
ThS. Nguyễn Chung Hà
Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bắc Ninh
Email: chunghavn@gmail.com
Tóm tắt
Bài viết nêu thực trạng phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2025; đánh giá mức độ hiệu quả của các chính sách hỗ trợ thông qua dữ liệu thứ cấp về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số xanh cấp tỉnh (PGI) và một số trường hợp can thiệp chính sách tiêu biểu. Kết quả cho thấy, Bắc Ninh đã hình thành khung hỗ trợ tương đối toàn diện, bao gồm: hỗ trợ mặt bằng sản xuất, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số, công cụ tài chính ban đầu và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Các chỉ số về gia nhập thị trường và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp có xu hướng phục hồi rõ rệt vào cuối giai đoạn. Tuy nhiên, hiệu quả thụ hưởng chính sách vẫn bị giới hạn bởi 3 nút thắt: khó tiếp cận tín dụng, thiếu mặt bằng sản xuất phù hợp và khoảng cách giữa thiết kế chính sách với thực thi. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất nhóm khuyến nghị cho giai đoạn 2026-2030 nhằm nâng cao chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Từ khóa: Bắc Ninh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, PCI
Abstract
This article reviews the development of small and medium-sized enterprises (SMEs) in Bac Ninh province during 2016-2025 and evaluates the effectiveness of local support policies using secondary data from the Provincial Competitiveness Index (PCI), the Provincial Green Index (PGI), local policy documents and selected policy intervention cases. The findings indicate that Bac Ninh has developed a relatively comprehensive support framework covering production premises, human resource development, digital transformation, start-up financial tools and the innovation ecosystem. Market entry and business support indicators improved toward the end of the period, while the smart factory cooperation program with Samsung provides practical evidence of productivity gains among selected supporting-industry SMEs. Nevertheless, policy uptake remains constrained by credit barriers, insufficient production premises suitable for small firms and implementation gaps between policy design and delivery. The article proposes policy implications for 2026-2030 to improve targeting, measurability and value-chain connectivity in SME support policies.
Keywords: Bac Ninh, SMEs, business support policy, PCI
ĐẶT VẤN ĐỀ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, nhất là tại các tỉnh công nghiệp có mức độ hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đối với Bắc Ninh, sự hiện diện của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các tập đoàn công nghệ lớn tạo ra cơ hội mở rộng thị trường, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cấp năng lực quản trị, công nghệ, lao động và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của các doanh nghiệp nội địa. Trong bối cảnh đó, chính sách hỗ trợ DNNVV không chỉ là công cụ thúc đẩy số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường mà còn là cơ chế nâng cao chất lượng tăng trưởng, mức độ liên kết chuỗi cung ứng và sức chống chịu của khu vực tư nhân địa phương.
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phân tích mô tả trên nền dữ liệu thứ cấp. Nguồn dữ liệu chính gồm: văn bản chính sách của tỉnh Bắc Ninh về hỗ trợ DNNVV; dữ liệu PCI/PGI của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI); các báo cáo, bài viết của cơ quan truyền thông chính thống; và thông tin công bố của doanh nghiệp/tổ chức liên quan đến chương trình hợp tác phát triển công nghiệp hỗ trợ. Các dữ liệu được đối chiếu theo ba nhóm biến: quy mô và cấu trúc DNNVV, nội dung chính sách hỗ trợ và kết quả thể hiện qua chỉ số hoặc trường hợp thực thi.
Do giới hạn của dữ liệu thứ cấp, bài viết không thực hiện kiểm định nhân quả giữa từng chính sách và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Thay vào đó, phân tích nhấn mạnh tính phù hợp của thiết kế chính sách, khả năng thụ hưởng của doanh nghiệp và các bằng chứng thực tiễn cho thấy chiều hướng tác động. Đây là cách tiếp cận phù hợp với mục tiêu xây dựng hàm ý chính sách địa phương, đồng thời cần được bổ sung bằng khảo sát doanh nghiệp hoặc phỏng vấn sâu trong các nghiên cứu tiếp theo.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ CẤU TRÚC QUY MÔ DNNVV TẠI BẮC NINH
Trong giai đoạn 2016-2025, Bắc Ninh tiếp tục củng cố vị thế của một trung tâm công nghiệp, thương mại và thu hút FDI quan trọng của Việt Nam. Bên cạnh tác động lan tỏa từ khu vực FDI, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt là DNNVV, tăng nhanh cả về số lượng và quy mô vốn. Toàn tỉnh có hơn 54.000 doanh nghiệp, trong đó khoảng 95% là DNNNVV. Năm 2025, khu vực DNNVV đóng góp khoảng 30,1% GRDP, trên 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời tạo nhiều việc làm và đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, xuất nhập khẩu của Tỉnh (Đồng Thủy, 2026).
Động lực gia nhập thị trường tiếp tục được duy trì vào cuối giai đoạn nghiên cứu. Riêng chín tháng đầu năm 2025, Bắc Ninh ghi nhận 5.448 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 25% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký mới và bổ sung gần 95.000 tỷ đồng (Ánh Tuyết, 2025). Các số liệu này cho thấy môi trường kinh doanh địa phương có sức hấp dẫn, song cũng đặt ra yêu cầu nâng cấp chất lượng dịch vụ công và hệ thống hỗ trợ sau gia nhập thị trường.
Một đặc điểm nổi bật khác là tốc độ chuyển đổi số và vai trò ngày càng lớn của khu vực công nghệ. Bắc Ninh có khoảng 1.035 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực điện tử và công nghệ thông tin; tỷ trọng kinh tế số trong GRDP được công bố ở mức 46,3%, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước (Việt Hùng, 2026b). Nền tảng hạ tầng số và cụm doanh nghiệp công nghệ tạo điều kiện thuận lợi để DNNVV tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất hiện đại.
Tuy nhiên, tăng trưởng về số lượng chưa đồng nghĩa với sự cân bằng về cấu trúc quy mô. Nhóm doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, khiến hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa thiếu lớp doanh nghiệp “trung gian” có khả năng hấp thụ công nghệ, dẫn dắt nhà cung ứng cấp dưới và liên kết với các tập đoàn đa quốc gia (Thái Sơn, 2022). Do đó, điểm then chốt của chính sách hỗ trợ không chỉ là duy trì tốc độ thành lập doanh nghiệp, mà còn là tạo điều kiện để doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ nâng cấp lên quy mô vừa, tăng năng suất và đáp ứng tiêu chuẩn chuỗi cung ứng.
KHUNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DNNVV GIAI ĐOẠN 2016-2025
Giai đoạn 2016-2025 chứng kiến sự hình thành của một hệ thống chính sách hỗ trợ DNNVV tương đối đa dạng tại Bắc Ninh. Trọng tâm là Đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020-2025” ban hành theo Quyết định số 396/QĐ-UBND ngày 26/8/2020 (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2020), cùng với các chính sách chuyên biệt về mặt bằng sản xuất, chữ ký số, dịch vụ đăng ký kinh doanh, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực (HĐND tỉnh Bắc Ninh, 2020, 2021).
Về nội dung, khung chính sách thể hiện sự chuyển dịch từ hỗ trợ chung sang hỗ trợ theo nhóm nhu cầu cụ thể: giảm chi phí gia nhập thị trường, hỗ trợ thuê mặt bằng sản xuất, đào tạo quản trị và lao động, thúc đẩy số hóa, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp và kết nối doanh nghiệp với chuỗi cung ứng. Bảng 1 tóm tắt các trụ cột hỗ trợ chính.
Bảng 1: Các trụ cột chính sách hỗ trợ DNNVV tại Bắc Ninh giai đoạn 2016-2025
|
Trụ cột hỗ trợ |
Văn bản/chương trình nền tảng |
Mục tiêu thiết kế |
Cơ chế hỗ trợ tiêu biểu |
|
Mặt bằng sản xuất |
Quyết định 396/QĐ-UBND; Nghị quyết 14/2020/NQ-HĐND |
Hỗ trợ doanh nghiệp thuê đất, thuê mặt bằng hoặc di dời vào khu/cụm công nghiệp. |
Hỗ trợ một phần tiền thuê trong ba năm đầu; hỗ trợ cao hơn cho công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng FDI; hỗ trợ chi phí di dời cơ sở sản xuất. |
|
Phát triển nguồn nhân lực |
Đề án hỗ trợ DNNVV giai đoạn 2020-2025 |
Nâng cao năng lực quản trị và kỹ năng nghề cho lao động công nghiệp. |
Đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo nghề cho người lao động và các lớp bồi dưỡng chuyên đề. |
|
Chuyển đổi số và công cụ tài chính ban đầu |
Quyết định 396/QĐ-UBND; Nghị quyết 07/2021/NQ-HĐND |
Giảm chi phí tuân thủ và thúc đẩy số hóa quy trình của doanh nghiệp mới thành lập. |
Hỗ trợ phần mềm kế toán, phần mềm kế toán thuế, chữ ký số công cộng và nhận kết quả đăng ký kinh doanh qua bưu chính. |
|
Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo |
Các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động hiệp hội doanh nghiệp |
Tạo không gian kết nối, tư vấn, đào tạo và trình diễn mô hình đổi mới. |
Tổ chức cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, hiệp hội và các đối tác FDI. |
Nhìn chung, hệ thống chính sách đã tạo hành lang pháp lý tương đối rõ cho hỗ trợ DNNVV. Các hỗ trợ liên quan đến phần mềm kế toán, chữ ký số và dịch vụ bưu chính có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp mới thành lập và hộ kinh doanh chuyển đổi, vì giúp giảm chi phí tuân thủ ban đầu và tăng mức độ minh bạch tài chính. Tuy nhiên, tính hiệu quả của chính sách phụ thuộc không chỉ vào mức hỗ trợ được thiết kế mà còn vào khả năng tiếp cận của doanh nghiệp và mức độ phối hợp giữa các cơ quan thực thi.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH QUA PCI, PGI VÀ BẰNG CHỨNG TRƯỜNG HỢP
Biến động các chỉ số thành phần PCI và PGI
Bảng 2: Một số chỉ số thành phần PCI của Bắc Ninh giai đoạn 2016-2024
|
Chỉ số thành phần |
2016 |
2017 |
2019 |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
|
Gia nhập thị trường |
8,29 |
7,27 |
6,88 |
7,04 |
6,53 |
7,13 |
7,41 |
8,07 |
|
Tiếp cận đất đai |
6,04 |
6,57 |
7,55 |
7,07 |
7,14 |
7,05 |
6,96 |
6,08 |
|
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp |
5,64 |
6,86 |
6,62 |
6,75 |
7,27 |
6,48 |
5,47 |
7,41 |
|
Đào tạo lao động |
6,73 |
7,56 |
7,03 |
6,82 |
6,74 |
7,57 |
6,51 |
7,05 |
|
Thiết chế pháp lý |
4,85 |
5,39 |
7,91 |
6,95 |
7,06 |
7,09 |
7,64 |
7,59 |
|
Xếp hạng PCI tổng thể |
17 |
17 |
4 |
10 |
7 |
7 |
N/A |
N/A |
Bảng 2 cho thấy, chỉ số Gia nhập thị trường giảm xuống mức 6,53 điểm năm 2021, nhưng phục hồi liên tục và đạt 8,07 điểm năm 2024. Diễn biến này phù hợp với nỗ lực đơn giản hóa thủ tục hành chính, gia tăng dịch vụ công trực tuyến và hỗ trợ đăng ký kinh doanh. Về mặt chính sách, đây là tín hiệu cho thấy các hỗ trợ giảm chi phí ban đầu và cải cách thủ tục có tác động tích cực đến giai đoạn gia nhập thị trường của DNNVV.
Ngược lại, chỉ số Tiếp cận đất đai giảm từ mức 7,55 điểm năm 2019 xuống 6,08 điểm năm 2024. Đây là cảnh báo quan trọng vì mặt bằng sản xuất là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp mở rộng quy mô, cải thiện năng lực sản xuất và đáp ứng yêu cầu của đối tác FDI. Thực trạng này cũng tương thích với phản ánh của doanh nghiệp nhỏ về tình trạng thiếu diện tích thuê phù hợp trong cụm công nghiệp (Đại La, 2025).
Chỉ số Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp có diễn biến dao động mạnh. Sau khi đạt 7,27 điểm năm 2021, chỉ số này giảm xuống 5,47 điểm năm 2023, rồi phục hồi lên 7,41 điểm năm 2024. Diễn biến này gợi ý rằng hiệu quả hỗ trợ có thể cao trong giai đoạn chính sách được triển khai mạnh hoặc có cú hích đặc thù, nhưng dễ suy giảm nếu quy trình tiếp cận phức tạp, nguồn lực giải ngân chậm hoặc nhu cầu của doanh nghiệp thay đổi nhanh hơn thiết kế chính sách.
Bên cạnh PCI, kết quả PGI năm 2024 ghi nhận Bắc Ninh nằm trong nhóm địa phương có điểm số xanh cao, thể hiện nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp trong tuân thủ môi trường và chuyển đổi xanh (VCCI, 2025). Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu mới của chuỗi cung ứng toàn cầu, nơi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) ngày càng ảnh hưởng đến khả năng tham gia thị trường của DNNVV.
Chương trình hợp tác phát triển nhà máy thông minh với Samsung
Một minh chứng thực tiễn đáng chú ý là chương trình hợp tác phát triển công nghiệp hỗ trợ và nhà máy thông minh giữa Bộ Công Thương, UBND tỉnh Bắc Ninh và Samsung Việt Nam. Chương trình này chuyển trọng tâm hỗ trợ từ cấp kinh phí trực tiếp sang tư vấn cải tiến tại hiện trường sản xuất, qua đó giúp doanh nghiệp thay đổi phương thức quản trị, số hóa dữ liệu vận hành và cải thiện năng suất (An Trần, 2026; Samsung Việt Nam, 2026).
Trong giai đoạn 2022-2025, chương trình triển khai 19 lượt tư vấn cải tiến cho 16 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Bắc Ninh. Một số doanh nghiệp được ghi nhận nâng cấp mức độ nhà máy thông minh từ cấp độ 1 lên cấp độ 2 hoặc 3. Trường hợp Công ty Cổ phần Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bao bì Thăng Long cho thấy chi phí nhân công trực tiếp giảm 8%, hiệu suất sử dụng thiết bị (OEE) tăng 9% và tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn ngay từ lần sản xuất đầu tiên (FPY) tăng 8% sau cải tiến (An Trần, 2026). Trường hợp Công ty TNHH Nhựa An Lập cũng ghi nhận mức đánh giá nhà máy thông minh tăng từ 1,7 lên 2,8, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất tăng từ 80% lên 92% và tỷ lệ sản phẩm lỗi giảm đáng kể (Thanh Ngân, 2026).
Ý nghĩa chính sách của mô hình này nằm ở khả năng tạo tác động năng lực thay vì chỉ hỗ trợ chi phí. Khi chuyên gia của tập đoàn dẫn dắt trực tiếp tại xưởng sản xuất, doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp nhận phương pháp quản trị tinh gọn, chuẩn hóa quy trình và từng bước đáp ứng yêu cầu chất lượng của chuỗi cung ứng FDI. Việc Bắc Ninh tiếp tục ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030 với Samsung Việt Nam cho thấy địa phương đang ưu tiên mô hình hỗ trợ theo chiều sâu, tập trung vào tư vấn khuôn mẫu thông minh và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao (Samsung Việt Nam, 2026).
NHỮNG ĐIỂM NGHẼN LÀM GIẢM HIỆU QUẢ THỤ HƯỞNG CHÍNH SÁCH
Một là, khó tiếp cận tín dụng và hạn chế năng lực tài chính
Khó khăn về vốn là rào cản phổ biến của DNNVV Bắc Ninh. Theo phản ánh trong các nguồn được tổng hợp, số doanh nghiệp có dư nợ phát sinh tại ngân hàng vẫn còn hạn chế so với quy mô cộng đồng doanh nghiệp; nhiều doanh nghiệp nhỏ thiếu tài sản bảo đảm, hệ thống sổ sách kế toán chưa đạt chuẩn và chưa đủ năng lực đáp ứng yêu cầu thẩm định tín dụng (Thái Sơn, 2022).
Ngay cả khi ngân hàng thương mại triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi, khoảng cách giữa điều kiện giải ngân và năng lực thực tế của doanh nghiệp siêu nhỏ/nhỏ vẫn là trở ngại. Điều này cho thấy hỗ trợ tín dụng cần được thiết kế đồng bộ với hỗ trợ quản trị tài chính, chuẩn hóa báo cáo kế toán, nâng cao năng lực lập phương án kinh doanh và phát triển cơ chế bảo lãnh tín dụng dựa trên dòng tiền hoặc hợp đồng đầu ra.
Hai là, thiếu mặt bằng sản xuất phù hợp với quy mô doanh nghiệp nhỏ
Nhu cầu di dời cơ sở sản xuất ra khỏi khu dân cư, làng nghề và mở rộng vào các cụm công nghiệp là rất lớn, nhưng nhiều doanh nghiệp nhỏ không tiếp cận được diện tích thuê phù hợp. Một số cụm công nghiệp có yêu cầu diện tích tối thiểu lên tới 10.000 m², vượt xa nhu cầu và năng lực tài chính của doanh nghiệp nhỏ. Trường hợp doanh nghiệp sản xuất khuôn mẫu phải thuê lại nhà xưởng của đơn vị khác, hoặc doanh nghiệp cơ khí chính xác duy trì nhà xưởng khoảng 300 m² trong khu dân cư, cho thấy điểm nghẽn đất đai có thể trực tiếp làm mất cơ hội đơn hàng và cản trở tăng ca sản xuất (Đại La, 2025).
Vấn đề không chỉ nằm ở giá thuê hay thiếu quỹ đất, mà còn ở khâu quy hoạch và kết nối thông tin. Nếu nhu cầu của DNNVV không được khảo sát sớm trước khi cụm công nghiệp hình thành, thiết kế hạ tầng dễ nghiêng về các lô lớn, phù hợp với doanh nghiệp quy mô lớn hơn, trong khi doanh nghiệp nhỏ lại bị loại khỏi cơ hội tiếp cận đất sạch ngay từ đầu.
Ba là, độ vênh giữa thiết kế chính sách và thực thi
Nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV được thiết kế với mục tiêu rõ nhưng hiệu quả thực tế phụ thuộc vào thủ tục, hướng dẫn thực hiện, phân bổ kinh phí và năng lực phối hợp liên ngành. Khi quy trình xét duyệt kéo dài, yêu cầu hồ sơ phức tạp hoặc thông tin chính sách không đến đúng nhóm doanh nghiệp mục tiêu, doanh nghiệp có xu hướng tự xoay xở thay vì theo đuổi hỗ trợ ngân sách (Hà Trần, 2026).
Bên cạnh đó, xu hướng gia tăng trở lại của chi phí không chính thức ở cấp quốc gia trong PCI 2024 đặt ra yêu cầu tăng cường minh bạch hóa quy trình xử lý thủ tục, công khai tiêu chí xét duyệt và thiết lập cơ chế giám sát phản hồi doanh nghiệp (VCCI, 2025). Với Bắc Ninh, đây là điều kiện cần để đảm bảo chính sách hỗ trợ không dừng ở thiết kế tốt mà trở thành dịch vụ công dễ tiếp cận, có thể đo lường và được doanh nghiệp tin cậy.
Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về việc sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh để hình thành tỉnh Bắc Ninh mới, chính thức hoạt động từ ngày 01/7/2025, đã tạo ra một không gian phát triển rộng lớn hơn với diện tích 4.718,60 km² và dân số 3.619.433 người. Tiếp đó, Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15, ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã đã đưa toàn tỉnh còn 99 đơn vị cấp xã. Sự thay đổi này không chỉ mở rộng quy mô lãnh thổ và dân số, mà còn tạo điều kiện tái cấu trúc không gian phát triển theo hướng kết nối khu vực công nghiệp - đô thị có mật độ cao của Bắc Ninh trước đây với quỹ đất, nguồn lao động, nông nghiệp, logistics và hệ thống khu công nghiệp của Bắc Giang trước đây. Nếu được quản trị hiệu quả, tỉnh Bắc Ninh mới có thể hình thành mạng lưới sản xuất, cung ứng và dịch vụ hỗ trợ đa dạng hơn, qua đó nâng cao năng lực liên kết vùng và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, quá trình sắp xếp địa giới hành chính cũng tạo ra “điểm gãy thống kê” cần được nhận diện thận trọng. Các chỉ tiêu của “Bắc Ninh năm 2024” và “Bắc Ninh sau ngày 01/7/2025” không còn phản ánh cùng một phạm vi lãnh thổ, quy mô dân số, cơ cấu ngành, số lượng doanh nghiệp, quỹ đất và hệ thống hạ tầng. Vì vậy, việc so sánh trực tiếp các chỉ tiêu giữa hai thời điểm này để kết luận về tăng trưởng hay suy giảm có thể dẫn đến sai lệch trong phân tích và hoạch định chính sách.
Trong ngắn hạn, rủi ro lớn nhất của quá trình chuyển đổi nằm ở khả năng gián đoạn thủ tục hành chính, thay đổi đầu mối tiếp nhận, chậm tích hợp cơ sở dữ liệu và sự khác biệt về quy trình xử lý giữa các địa bàn trước sáp nhập. Đối với doanh nghiệp đang thực hiện thủ tục hỗ trợ, thuê đất, đầu tư hoặc tiếp cận chính sách, nếu phải nộp lại hồ sơ do thay đổi cơ quan xử lý, chi phí tuân thủ sẽ gia tăng, thời gian chờ đợi kéo dài và niềm tin vào tính ổn định của chính sách có thể bị suy giảm.
HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO GIAI ĐOẠN 2026-2030
Thứ nhất, khắc phục độ vênh giữa thiết kế chính sách và thực thi. Theo đó, trong giai đoạn chuyển tiếp, Tỉnh cần công bố song song dữ liệu của khu vực Bắc Ninh cũ, khu vực Bắc Giang cũ và toàn tỉnh Bắc Ninh mới; đồng thời, xây dựng chuỗi số liệu hồi tố theo ranh giới hành chính mới. Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng đối với lập dự toán ngân sách, quy hoạch cụm công nghiệp, phát triển thị trường lao động và thiết kế các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp.
Tỉnh cần thiết lập nguyên tắc chuyển tiếp rõ ràng: các hồ sơ đã được tiếp nhận phải được bảo lưu trạng thái xử lý; thời hạn giải quyết cần được công bố lại minh bạch nếu có điều chỉnh; đầu mối mới phải chịu trách nhiệm kế thừa, hướng dẫn và phản hồi doanh nghiệp; đồng thời cần có kênh trực tuyến để doanh nghiệp theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ. Việc thống nhất chuẩn phục vụ hành chính trên toàn Tỉnh là cần thiết, song quá trình triển khai không nên áp dụng cơ học, mà cần linh hoạt theo mật độ doanh nghiệp, khoảng cách địa lý, đặc điểm ngành nghề và mức độ phát triển không đồng đều giữa các tiểu vùng.
Thứ hai, Tỉnh cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đầu vào sang hỗ trợ nâng cấp năng lực. Các hỗ trợ tài chính ban đầu vẫn cần thiết, nhưng trọng tâm nên đặt vào tư vấn quản trị, cải tiến sản xuất, chuyển đổi số, quản trị chất lượng, tiêu chuẩn ESG và khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Chương trình nhà máy thông minh với Samsung cho thấy hỗ trợ dựa trên chuyên gia và đo lường kết quả tại doanh nghiệp có thể tạo tác động rõ hơn so với hỗ trợ dàn trải.
Cần thiết kế cơ chế mặt bằng sản xuất phù hợp với quy mô DNNVV. Bắc Ninh có thể yêu cầu các cụm công nghiệp dành tỷ lệ nhất định cho lô nhỏ, nhà xưởng xây sẵn hoặc mô hình nhà xưởng nhiều tầng; đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu nhu cầu mặt bằng của DNNVV theo ngành nghề, quy mô và yêu cầu môi trường. Cách làm này giúp chính sách hỗ trợ tiền thuê đất gắn với nguồn cung thực tế, tránh tình trạng có chính sách nhưng doanh nghiệp không tìm được diện tích phù hợp.
Thứ ba, chính sách tín dụng cần đi kèm hỗ trợ “nâng chuẩn tài chính” cho doanh nghiệp nhỏ. Ngoài các gói vay ưu đãi, tỉnh và hiệp hội doanh nghiệp có thể phối hợp tổ chức chương trình hỗ trợ lập hồ sơ tín dụng, chuẩn hóa sổ sách kế toán, tư vấn dòng tiền, hỗ trợ xây dựng phương án đầu tư và kết nối bảo lãnh tín dụng. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách giữa yêu cầu thẩm định của ngân hàng và năng lực quản trị của doanh nghiệp.
Thứ tư, cần số hóa quy trình thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV. Một cổng thông tin thống nhất nên cho phép doanh nghiệp tra cứu chính sách, tự đánh giá điều kiện, nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và phản hồi vướng mắc. Dữ liệu này đồng thời giúp cơ quan quản lý đo lường tỷ lệ tiếp cận, tỷ lệ giải ngân, thời gian xử lý và mức độ hài lòng của doanh nghiệp theo từng chương trình.
Thứ năm, giai đoạn 2026-2030 nên gắn hỗ trợ DNNVV với chương trình chuyển đổi số và hỗ trợ pháp lý liên ngành. Bắc Ninh đã đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 15.000 DNNVV trong hoạt động đánh giá mức độ sẵn sàng, tư vấn lộ trình và đào tạo năng lực số, trong đó ít nhất 8.000 doanh nghiệp được hỗ trợ ứng dụng sản phẩm công nghệ số, nền tảng quản trị số và trí tuệ nhân tạo vào sản xuất kinh doanh (Việt Hùng, 2026a). Đồng thời, các kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho DNNVV và hộ kinh doanh chuyển đổi cần được triển khai theo hướng dễ tiếp cận, tập trung vào phòng ngừa rủi ro hợp đồng, thuế, lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ.
Thứ sáu, cần phát huy vai trò trung gian của hiệp hội doanh nghiệp. Hiệp hội DNNVV tỉnh có thể đóng vai trò “bộ lọc nhu cầu” và “kênh phản hồi chính sách” bằng cách tổng hợp khó khăn của hội viên, tổ chức tư vấn theo nhóm ngành, kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, chuyên gia công nghệ, doanh nghiệp FDI và cơ quan quản lý (Đức Anh, 2025)./.
Tài liệu tham khảo:
1. An Trần (2026). Samsung Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp tại Bắc Ninh tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. https://nhandan.vn/samsung-viet-nam-ho-tro-doanh-nghiep-tai-bac-ninh-tham-gia-chuoi-cung-ung-toan-cau-post973059.html
2. Ánh Tuyết (2025). Bắc Ninh bứt phá nhờ dòng vốn FDI và làn sóng doanh nghiệp mới. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/bac-ninh-but-pha-nho-dong-von-fdi-va-lan-song-doanh-nghiep-moi-184176-184176.html
3. Đại La (2025). Bắc Ninh: Doanh nghiệp nhỏ “khát” cụm công nghiệp. https://baobacninhtv.vn/bac-ninh-doanh-nghiep-nho-khat-cum-cong-nghiep-postid422140.bbg
4. Đồng Thủy (2026). Nghị quyết 57-NQ/TW: Bắc Ninh tạo lực đẩy chuyển đổi số cho hơn 54.000 doanh nghiệp. https://www.vietnamplus.vn/nghi-quyet-57-nqtw-bac-ninh-tao-luc-day-chuyen-doi-so-cho-hon-54000-doanh-nghiep-post1129637.vnp.
5. Đức Anh (2025). Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh tiếp tục là cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. https://baobacninhtv.vn/hiep-hoi-doanh-nghiep-nho-va-vua-tinh-bac-ninh-tiep-tuc-la-cau-noi-ho-tro-doanh-nghiep-phat-trien-postid425262.bbg
6. Hà Trần (2026). Hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://hangthat.thuonghieucongluan.com.vn/hoan-thien-chinh-sach-ho-tro-doanh-nghiep-nho-va-vua-a291242.html
7. HĐND tỉnh Bắc Ninh (2020). Nghị quyết số 14/2020/NQ-HĐND, ngày 26/8/2020 quy định chính sách hỗ trợ mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
8. HĐND tỉnh Bắc Ninh (2021). Nghị quyết số 07/2021/NQ-HĐND, ngày 29/9/2021 quy định định mức kinh phí hỗ trợ chữ ký số công cộng và nhận kết quả đăng ký kinh doanh qua dịch vụ bưu chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2021-2025.
9. Kim Dung, Vũ Phường (2024). Tỉnh Bắc Ninh quyết tâm cải thiện các chỉ số điều hành, quản trị địa phương. https://diendandoanhnghiep.vn/tinh-bac-ninh-quyet-tam-cai-thien-cac-chi-so-dieu-hanh-quan-tri-dia-phuong-10135370.html
10. Samsung Việt Nam (2026). Bắc Ninh tổng kết chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn 2020-2025 và ký kết hợp tác giai đoạn 2026-2030 với Samsung Việt Nam. https://news.samsung.com/vn/bac-ninh-tong-ket-chuong-trinh-ho-tro-doanh-nghiep-giai-doan-2020-2025-va-ky-ket-hop-tac-giai-doan-2026-2030-voi-samsung-viet-nam
11 .Thanh Ngân (2026). Samsung Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp Bắc Ninh phát triển nhà máy thông minh. https://baobacninhtv.vn/samsung-viet-nam-ho-tro-doanh-nghiep-bac-ninh-phat-trien-nha-may-thong-minh.bbg
12. Thái Sơn (2022). Giải pháp phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bắc Ninh. https://nhandan.vn/giai-phap-phat-trien-ben-vung-doanh-nghiep-vua-va-nho-o-bac-ninh-post710999.html
13. Trang Dương (2020). Bắc Ninh: Hỗ trợ mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://baophapluat.vn/bac-ninh-ho-tro-mat-bang-san-xuat-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-post375745.html
14. UBND tỉnh Bắc Ninh (2020). Quyết định số 396/QĐ-UBND ngày 26/8/2020 về Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020-2025.
15. UBND tỉnh Bắc Ninh (2026a). Kế hoạch 32/KH-UBND, ngày 03/02/2026 hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh Bắc Ninh.
16. UBND tỉnh Bắc Ninh (2026b). Kế hoạch 38/KH-UBND, ngày 05/02/2026 triển khai Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
17. VCCI (2025). Báo cáo PCI 2024.
18. Việt Hùng (2026a). Bắc Ninh thúc đẩy 15.000 doanh nghiệp chuyển đổi số đến 2030. https://bnews.vn/bac-ninh-thuc-day-15-000-doanh-nghiep-chuyen-doi-so-den-2030/421828.html
19. Việt Hùng (2026b). Tỉnh Bắc Ninh dẫn đầu cả nước về tỷ trọng kinh tế số trong GRDP. https://www.vietnamplus.vn/tinh-bac-ninh-dan-dau-ca-nuoc-ve-ty-trong-kinh-te-so-trong-grdp-post1122197.vnp.
| Ngày nhận bài: 28/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/8/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026 |
Các tin khác
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota
Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam
Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu
Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes
Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang
Ảnh hưởng của niềm tin đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam chi nhánh Bình Dương
Kinh nghiệm phát huy các nhân tố tác động đến kinh tế số ở một số quốc gia và hàm ý đối với Việt Nam
Các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp của khách du lịch nội địa
Phát triển kinh tế tư nhân ở Đồng Tháp trong kỷ nguyên mới: Thực trạng và giải pháp đột phá