Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2015-2025

Nghiên cứu - Trao đổi 08:08 | 06/11/2026
Nâng cao TFP có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và chất lượng.

ThS. Phan Thị Thu Giang

Trường Đại học Thương mại

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích sự thay đổi trong đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Kết quả cho thấy, tỷ trọng đóng góp của TFP tăng từ 34,75% trong giai đoạn 2011-2015 lên 46,04% trong giai đoạn 2016-2020 và 46,84% trong giai đoạn 2021-2025. Kết quả cho thấy TFP đã trở thành yếu tố đóng góp lớn nhất trong cơ cấu tăng trưởng, nhưng sự gia tăng tỷ trọng đóng góp chưa đủ để khẳng định chất lượng tăng trưởng được cải thiện tương ứng. Từ đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện hiệu quả phân bổ, sử dụng các nguồn lực, qua đó tạo nền tảng để nâng cao năng suất và củng cố vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Từ khóa: Năng suất các nhân tố tổng hợp, tăng trưởng kinh tế, vốn, lao động, Việt Nam

Abstract

This paper examines changes in the contribution of total factor productivity (TFP) to Viet Nam’s economic growth over the period 2015-2025. The results indicate that the share of TFP in economic growth increased from 34.75% in 2011–2015 to 46.04% in 2016-2020 and 46.84% in 2021-2025. These findings suggest that TFP has become the largest contributor to economic growth. However, the rising share of TFP does not necessarily indicate a corresponding improvement in the quality of economic growth. Accordingly, the paper proposes several policy implications to promote technological innovation, enhance human capital quality, and improve the efficiency of resource allocation and utilization, thereby establishing a foundation for productivity enhancement and strengthening the role of TFP in Viet Nam’s economic growth.

Keywords: Total factor productivity, economic growth, capital, labor, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư và số lượng lao động được huy động, mà còn chịu ảnh hưởng của hiệu quả kết hợp các yếu tố sản xuất. Khi nền kinh tế mở rộng chủ yếu thông qua gia tăng đầu vào, khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao có thể bị hạn chế bởi chi phí tích lũy vốn, nguồn cung lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Vì vậy, nâng cao TFP có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và chất lượng.

Đối với Việt Nam, yêu cầu này trở nên rõ nét khi nền kinh tế vừa cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa phải nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới công nghệ. Diễn biến tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2015-2025 cũng cho thấy nền kinh tế trải qua những thay đổi đáng kể, từ thời kỳ tăng trưởng tương đối ổn định trước đại dịch COVID-19 đến giai đoạn suy giảm tốc độ tăng trưởng và phục hồi sau đại dịch. Những biến động đó đặt ra yêu cầu xem xét không chỉ tốc độ tăng GDP mà còn cả nguồn gốc của tăng trưởng.

Mặc dù TFP thường được sử dụng để đánh giá chất lượng tăng trưởng, chỉ tiêu này cần được diễn giải thận trọng. TFP không chỉ phản ánh tiến bộ công nghệ, mà còn bao hàm tác động của tổ chức sản xuất, quản trị, chất lượng lao động và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Do đó, việc phân tích TFP cần đặt trong mối quan hệ với đóng góp của vốn và lao động, thay vì xem tỷ trọng TFP tăng lên là bằng chứng đầy đủ cho sự cải thiện của mọi khía cạnh chất lượng tăng trưởng.

Từ yêu cầu thực tiễn trên, bài viết tập trung phân tích sự thay đổi trong đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2015-2025, đối chiếu với vai trò của vốn và lao động, qua đó đề xuất một số định hướng nâng cao TFP trong thời gian tới.

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-2025

Từ năm 2015-2025, tốc độ tăng GDP của Việt Nam biến động đáng kể cả về mức độ lẫn chiều hướng tăng trưởng (Bảng 1). Trong giai đoạn 2015-2019, tăng trưởng duy trì trên 6,6%, tăng từ 6,99% năm 2015 lên 7,36% năm 2019, mặc dù có sự sụt giảm trong năm 2016 trước khi phục hồi trong 3 năm tiếp theo. Sang giai đoạn 2020-2021, tốc độ tăng GDP giảm xuống dưới 3%, lần lượt đạt 2,87% và 2,55%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng trước đó. Năm 2022 đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ khi tốc độ tăng GDP đạt 8,54%, tăng 5,99 điểm phần trăm so với năm 2021 và là mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên, tăng trưởng giảm 3,56 điểm phần trăm vào năm 2023, xuống còn 4,98%, trước khi phục hồi trong 2 năm liên tiếp, đạt 7,04% năm 2024 và 8,02% năm 2025. So với năm 2015, tốc độ tăng GDP năm 2025 cao hơn 1,03 điểm phần trăm. Như vậy, mặc dù trải qua những giai đoạn suy giảm và phục hồi với biên độ lớn, tăng trưởng GDP năm 2025 đã vượt mức của giai đoạn trước đại dịch, cho thấy quy mô tăng trưởng được duy trì ở mức cao hơn so với 10 năm trước.

Bảng 1: Tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2015-2025

Năm

Tốc độ tăng GDP (%)

2015

6,99

2016

6,69

2017

6,94

2018

7,47

2019

7,36

2020

2,87

2021

2,55

2022

8,54

2023

4,98

2024

7,04

2025*

8,02

*Số liệu năm 2025 là ước tính.

Nguồn: Cục Thống kê (2026)

VAI TRÒ CỦA TFP ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG

Theo Bảng 2, tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP đã tăng qua các năm. Cùng với đó, đóng góp của vốn và lao động cũng thay đổi, phản ánh sự chuyển dịch trong cơ cấu các nguồn tạo ra tăng trưởng.

Bảng 2: Đóng góp của vốn, lao động và TFP vào tăng trưởng GDP

Giai đoạn

Đóng góp của vốn (%)

Đóng góp của lao động (%)

Đóng góp của TFP (%)

Tốc độ tăng TFP (%)

2011-2015

49,97

15,28

34,75

2,15

2016-2020

52,16

1,80

46,04

2,88

2021-2025

43,75

9,41

46,84

2,91

Nguồn: Cục Thống kê (2026)

Trước hết, đóng góp của TFP tăng từ 34,75% trong giai đoạn 2011-2015 lên 46,04% trong giai đoạn 2016-2020 và 46,84% trong giai đoạn 2021-2025. So với giai đoạn 2011-2015, tỷ trọng đóng góp của TFP trong giai đoạn 2021-2025 cao hơn 12,09 điểm phần trăm. Đây là dấu hiệu cho thấy TFP ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng GDP của Việt Nam. Đáng chú ý, tỷ trọng đóng góp của TFP trong hai giai đoạn 2016-2020 và 2021-2025 đều ở mức trên 46%.

Tốc độ tăng TFP cũng tăng từ 2,15% trong giai đoạn 2011-2015 lên 2,88% trong giai đoạn 2016-2020 và 2,91% trong giai đoạn 2021-2025. Như vậy, cả tốc độ tăng TFP và tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP đều cao hơn so với giai đoạn tham chiếu 2011-2015. Tuy nhiên, mức tăng tỷ trọng đóng góp giữa 2 giai đoạn 2016-2020 và 2021-2025 chỉ là 0,8 điểm phần trăm. Điều này cho thấy vai trò của TFP tiếp tục được duy trì ở mức cao, nhưng mức cải thiện về tỷ trọng đóng góp giữa hai giai đoạn gần đây tương đối hạn chế.

Trong khi đó, vốn vẫn là một nguồn đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế. Tỷ trọng đóng góp của vốn tăng từ 49,97% trong giai đoạn 2011-2015 lên 52,16% trong giai đoạn 2016-2020, sau đó giảm còn 43,75% trong giai đoạn 2021-2025. Mức giảm 8,41 điểm phần trăm giữa 2 giai đoạn gần nhất cho thấy cơ cấu đóng góp của tăng trưởng đã có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng tương đối của vốn. Tuy nhiên, mức đóng góp 43,75% trong giai đoạn 2021-2025 vẫn cho thấy tích lũy vốn tiếp tục giữ vai trò quan trọng.

Đặc biệt, tỷ trọng đóng góp của lao động biến động mạnh hơn 2 yếu tố còn lại. Chỉ tiêu này giảm từ 15,28% trong giai đoạn 2011-2015 xuống 1,80% trong giai đoạn 2016-2020, trước khi tăng lên 9,41% trong giai đoạn 2021-2025.

Như vậy, kết quả thống kê cho thấy đóng góp của TFP đã tăng lên trong khi tỷ trọng đóng góp của vốn giảm trong giai đoạn 2021-2025 so với giai đoạn 2016-2020. Điều này khẳng định rằng TFP ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, sự thay đổi về tỷ trọng đóng góp chưa phản ánh đầy đủ mức độ cải thiện năng suất và chất lượng tăng trưởng.

Từ số liệu tại Bảng 2, có thể rút ra 3 nhận định chính sau:

Thứ nhất, cơ cấu đóng góp vào tăng trưởng đã chuyển dịch theo hướng gia tăng vai trò tương đối của TFP. Trong giai đoạn 2021-2025, TFP trở thành yếu tố có tỷ trọng đóng góp lớn nhất, vượt vốn và lao động xét riêng từng yếu tố. Kết quả này cho thấy tăng trưởng kinh tế không chỉ được giải thích bởi sự gia tăng các yếu tố đầu vào mà còn gắn với phần tăng trưởng được quy cho năng suất tổng hợp. Đây là một chuyển biến tích cực xét về cơ cấu nguồn tăng trưởng. Tuy nhiên, mức đóng góp của TFP chỉ tăng nhẹ so với giai đoạn 2016-2020, cho thấy vị trí của yếu tố này đã tương đối ổn định trong cơ cấu đóng góp, thay vì tiếp tục gia tăng mạnh.

Thứ hai, mức cải thiện về năng suất chưa tương xứng với sự gia tăng vai trò tương đối của TFP trong dài hạn. Mặc dù tỷ trọng đóng góp của TFP tăng đáng kể so với giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng TFP trong 2 giai đoạn 2016-2020 và 2021-2025 chỉ chênh lệch 0,03 điểm phần trăm. Điều này cho thấy sự gia tăng tỷ trọng đóng góp trong giai đoạn gần đây không đi kèm với mức tăng tương ứng về tốc độ tăng TFP.

Thứ ba, vai trò lớn hơn của TFP chưa đồng nghĩa với việc tăng trưởng đã giảm đáng kể sự phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào. Trong giai đoạn 2021-2025, vốn vẫn chiếm 43,75% tổng đóng góp vào tăng trưởng GDP, trong khi lao động đóng góp 9,41%. Như vậy, 2 yếu tố đầu vào này vẫn chiếm tổng cộng 53,16% mức đóng góp vào GDP. Điều đó cho thấy tích lũy vốn và sử dụng lao động tiếp tục giữ vai trò quan trọng, dù TFP đã trở thành yếu tố đóng góp lớn nhất khi xét riêng từng thành phần.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Dựa trên kết quả phân tích, việc nâng cao TFP cần được đặt trong mối quan hệ đồng bộ giữa đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả đầu tư và cải thiện môi trường phân bổ nguồn lực.

Một là, cần thúc đẩy đổi mới công nghệ gắn với khả năng nâng cao năng suất thực tế của doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ nên khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sản xuất, tự động hóa, số hóa quy trình và quản trị dựa trên dữ liệu, đồng thời chú trọng khả năng hấp thụ và vận hành công nghệ. Hiệu quả hỗ trợ cần được đánh giá thông qua mức cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sử dụng nguồn lực, thay vì chỉ dựa trên số lượng dự án đầu tư công nghệ.

Hai là, phát triển nguồn nhân lực cần gắn với yêu cầu chuyển đổi công nghệ và cơ cấu ngành nghề. Nâng cao kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, năng lực quản trị và khả năng thích ứng với công nghệ mới sẽ giúp người lao động sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sản xuất. Bên cạnh đào tạo mới, cần tăng cường đào tạo lại và bồi dưỡng tại doanh nghiệp để hạn chế khoảng cách giữa kỹ năng của người lao động và yêu cầu của quá trình đổi mới sản xuất.

Ba là, nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn. Trong bối cảnh vốn vẫn đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, chính sách đầu tư cần quan tâm đồng thời đến quy mô và chất lượng đầu tư. Việc lựa chọn dự án cần dựa trên đánh giá hiệu quả kinh tế, khả năng tạo năng lực sản xuất và tác động lan tỏa đối với doanh nghiệp, ngành và khu vực. Cải thiện chất lượng thẩm định, giám sát tiến độ và đánh giá hiệu quả sau đầu tư sẽ góp phần hạn chế lãng phí nguồn lực.

Bốn là, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và năng lực quản trị. Thủ tục hành chính minh bạch, khả năng tiếp cận nguồn lực thuận lợi và cạnh tranh bình đẳng có thể hỗ trợ dịch chuyển vốn, lao động đến các hoạt động có hiệu quả cao hơn. Ở cấp doanh nghiệp, việc cải thiện quản trị, tổ chức sản xuất, kiểm soát chi phí và sử dụng dữ liệu trong ra quyết định cũng là những hướng quan trọng để nâng cao TFP.

Năm là, cần hoàn thiện hệ thống theo dõi và đánh giá năng suất. Bên cạnh tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP, cơ quan quản lý nên sử dụng đồng bộ các chỉ tiêu về tốc độ tăng TFP, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư và chất lượng nguồn nhân lực. Việc công bố chuỗi dữ liệu có tính so sánh theo thời gian sẽ tạo điều kiện đánh giá chính xác hơn sự thay đổi của các nguồn tăng trưởng và hỗ trợ xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã gia tăng trong 10 năm qua, với tỷ trọng đóng góp tăng từ 34,75% trong giai đoạn 2011-2015 lên 46,04% trong giai đoạn 2016-2020 và 46,84% trong giai đoạn 2021-2025. Trong khi đó, tỷ trọng đóng góp của vốn giảm từ 52,16% xuống 43,75% giữa 2 giai đoạn gần nhất, còn đóng góp của lao động tăng từ 1,80% lên 9,41%. Những kết quả này cho thấy TFP ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn tạo ra tăng trưởng, nhưng vốn và lao động vẫn là những yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển.

Trong thời gian tới, nâng cao TFP cần được thúc đẩy thông qua đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh. Đồng thời, việc hoàn thiện dữ liệu năng suất sẽ là điều kiện quan trọng để theo dõi sát hơn nguồn gốc tăng trưởng và xây dựng chính sách phát triển kinh tế bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê. (2026). Niên giám Thống kê Việt Nam 2025. Nxb Kinh tế - Tài chính.

2. Tổng cục Thống kê. (2019). Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2019. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2019/12/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2019/

3. Tổng cục Thống kê. (2023). Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia: Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố vốn, lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp vào tốc độ tăng trưởng chung. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-dac-ta/2019/12/htcttkqg-ty-trong-dong-gop-cua-cac-yeu-to-von-lao-dong-nang-suat-cac-nhan-to-tong-hop-vao-toc-do-tang-truong-chung/

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/10/2026; Ngày duyệt đăng: 4/11/2026

Các tin khác

Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Trải nghiệm trò chơi hóa và ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z: Mô hình lý thuyết về vai trò trung gian của tình yêu thương hiệu

Trải nghiệm trò chơi hóa góp phần nâng cao sự tương tác và thúc đẩy ý định tiếp tục sử dụng ví điện tử của thế hệ Z. Các bằng chứng thực nghiệm ghi nhận tác động tích cực của trò chơi hóa đến khả năng duy trì người dùng và hành vi mua sắm. Tuy nhiên, hiệu quả của trò chơi hóa không phải lúc nào cũng tích cực.
Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Kế toán lưu ký và tự doanh tài sản mã hóa: So sánh Việt Nam với thông lệ quốc tế

Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóa phân biệt lưu ký với tự doanh. Thông tư số 15/2026/TT-BTC đã hướng dẫn nguyên tắc kế toán cho 2 hoạt động này. Tuy nhiên, đối chiếu quốc tế vẫn cần thiết vì việc ghi nhận tài sản lưu ký và đo lường tài sản tự doanh được xử lý khác nhau.
Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

Tác động của trí tuệ nhân tạo đến công việc: Tiếp cận từ góc nhìn cơ hội và rủi ro

AI đang dịch chuyển từ vị trí một công nghệ chuyên biệt sang một hạ tầng hỗ trợ phổ biến cho nhiều loại công việc. Vì vậy, tác động của AI đối với công việc không còn chỉ là vấn đề công nghệ mà đã trở thành vấn đề của thiết kế công việc, năng lực nghề nghiệp và quản trị tổ chức.
Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Cấu trúc ưu tiên các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị trong lựa chọn khách sạn 4-5 sao tại Hà Nội: Tiếp cận Delphi-AHP

Trải nghiệm của du khách tại thành phố không chỉ hình thành từ một điểm tham quan hay một dịch vụ riêng lẻ, mà từ sự kết hợp của nhiều tài nguyên, hoạt động và điều kiện tiếp cận trong toàn bộ hành trình.
Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Các yếu tố tác động đến hiệu quả marketing số từ góc nhìn khách hàng cá nhân tại Đồng Nai

Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi toàn diện hành vi người tiêu dùng, biến marketing số thành hệ thống điểm chạm đa kênh giúp doanh nghiệp tối ưu trải nghiệm và duy trì kết nối bền vững với khách hàng.
Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Nhận thức chi phí và thực hành xanh của nhân viên tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Nhơn Trạch

Bệnh viện vừa là nơi chữa bệnh vừa là nguồn tiêu thụ năng lượng và phát sinh chất thải lớn. Vì vậy, thực hành xanh giúp cơ sở y tế giảm cả tác động môi trường lẫn chi phí vận hành.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành học Khối kinh tế của sinh viên Trường Cao đẳng Đồng Tháp

Lựa chọn ngành học là một trong những quyết định quan trọng trong quá trình định hướng nghề nghiệp của người học, có ảnh hưởng đến kết quả học tập, mức độ gắn bó với ngành và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số của sinh viên đại học Việt Nam: Tiếp cận từ Lý thuyết nhận thức xã hội

Ý định khởi nghiệp số là yếu tố tiền đề quan trọng đối với sự tham gia khởi nghiệp trong tương lai, bởi nó phản ánh mức độ sẵn sàng và cam kết của sinh viên trong việc theo đuổi các hoạt động khởi nghiệp thông qua công nghệ số.
Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tác động của AI đến hiệu quả hoạt động bền vững của các doanh nghiệp xây dựng tại Việt Nam: Phân tích dựa trên các chỉ tiêu tài chính

Tại Việt Nam, mức độ ứng dụng AI chuyên sâu còn hạn chế. Đặc biệt, việc đầu tư công nghệ đòi hỏi nguồn vốn lớn trong khi các doanh nghiệp xây dựng chịu áp lực đòn bẩy tài chính cao. Câu hỏi đặt ra là liệu AI có thực sự tác động tích cực đến hiệu quả tài chính và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp hay không?
Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Vai trò của kế toán quản trị đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh, nhà quản trị cần thông tin kịp thời, chính xác và có tính dự báo. Nếu kế toán tài chính chủ yếu phản ánh sự kiện đã xảy ra cho đối tượng bên ngoài, thì kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng đến tương lai, phục vụ trực tiếp việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định trong nội bộ.