Chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hệ sinh thái đô thị thông minh tại TP. Cần Thơ
Lê Thị Thùy Dương
Đại học Cần Thơ; Email: [email protected]
Trần Văn Hiếu
Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Bài viết phân tích thực trạng chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và trong hệ sinh thái đô thị thông minh tại TP. Cần Thơ, đặt trong bối cảnh kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở dữ liệu khảo sát 120 doanh nghiệp nhỏ và vừa (Q4/2024), Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long 2025, cùng dữ liệu từ các cơ quan quản lý liên quan, bài viết chỉ ra: (i) Đồng bằng sông Cửu Long có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước (4,1/1.000 dân năm 2025), 87,8% doanh nghiệp nhỏ và vừa ở quy mô siêu nhỏ với năng suất lao động chỉ 133 triệu đồng/lao động/năm; (ii) Mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa Cần Thơ phân hóa rõ - mạnh ở hóa đơn điện tử (4,2/5) và thanh toán số (3,7/5), yếu ở phân tích dữ liệu (1,8/5) và kết nối chuỗi cung ứng (2,1/5); (iii) Hạ tầng đô thị thông minh chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tới doanh nghiệp - 68% doanh nghiệp chưa từng sử dụng dịch vụ số từ IOC Cần Thơ. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất 6 nhóm giải pháp chính sách kèm lộ trình ưu tiên nhằm tích hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa vào hệ sinh thái số đô thị, hướng tới mục tiêu kinh tế số chiếm ≥ 20% GRDP Cần Thơ vào năm 2030.
Từ khóa: DNNVV, chuyển đổi số, đô thị thông minh, Cần Thơ, năng suất lao động
Abstract
This article analyzes the current state of digital transformation among small and medium-sized enterprises within the smart city ecosystem of Can Tho City, in the context of the Mekong Delta regional economy. Drawing on a survey of 120 small and medium-sized enterprises conducted in the fourth quarter of 2024, the 2025 Mekong Delta Annual Economic Report, and data from relevant government agencies, the article identifies three key findings: (i) the Mekong Delta has the lowest enterprise density in the country, at 4.1 enterprises per 1,000 people in 2025, with 87.8% of small and medium-sized enterprises classified as micro-enterprises and labor productivity of only VND 133 million per worker per year; (ii) small and medium-sized enterprises in Can Tho exhibit marked differences in digital transformation readiness, performing relatively well in electronic invoicing (4.2/5) and digital payments (3.7/5), but poorly in data analytics (1.8/5) and supply chain connectivity (2.1/5); and (iii) smart city infrastructure has yet to generate spillover effects for businesses, with 68% of enterprises having never used digital services provided by the Can Tho Intelligent Operations Center (IOC). Based on these findings, the article proposes six groups of policy measures, together with a prioritized implementation roadmap, to integrate small and medium-sized enterprises into the urban digital ecosystem and work toward the target of the digital economy accounting for at least 20% of Can Tho's gross regional domestic product (GRDP) by 2030.
Keywords: Small and medium-sized enterprises, digital transformation, smart city, Can Tho, labor productivity
ĐẶT VẤN ĐỀ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là xương sống của nền kinh tế Việt Nam: Tính đến năm 2024, có trên 850.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó hơn 98% là DNNVV, đóng góp khoảng 45% GDP và tạo ra hơn 60% việc làm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2024). Tuy nhiên, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - nơi Cần Thơ giữ vai trò đô thị hạt nhân - Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025 (VCCI & Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, 2026) chỉ ra một nghịch lý sâu sắc: vùng có tiềm năng nông nghiệp tuyệt đối nhưng mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước (4,1/1.000 dân năm 2025), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2025 chưa tới 1 tỷ USD (chiếm 2,45% cả nước) và 87,8% DNNVV ở quy mô siêu nhỏ.
TP. Cần Thơ đang đẩy mạnh triển khai mô hình đô thị thông minh với kỳ vọng tạo “hiệu ứng lan tỏa” tích cực đến khu vực kinh tế tư nhân (UBND TP. Cần Thơ, 2026). Tuy nhiên, thực tế vận hành cho thấy hạ tầng đô thị thông minh (Trung tâm Điều hành thông minh - IOC, cổng dịch vụ công số, mạng 5G) chủ yếu phục vụ quản trị nhà nước và người dân, chưa tạo được giao diện kết nối thực chất với DNNVV. Mục tiêu kinh tế số chiếm ≥ 20% GRDP Cần Thơ vào năm 2030 theo Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024) chỉ có thể đạt được nếu DNNVV - lực lượng tạo ra phần lớn giá trị kinh tế địa phương - thực sự tham gia vào hệ sinh thái số đô thị với vai trò chủ thể cấu trúc.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
Lý thuyết về hệ sinh thái số đô thị và DNNVV
Khái niệm “hệ sinh thái số đô thị” (urban digital ecosystem) được Meijer và Bolívar (2016) xác định là môi trường tương tác giữa hạ tầng công nghệ, thể chế quản trị và các chủ thể kinh tế - xã hội trong không gian đô thị. Trong hệ sinh thái này, DNNVV đóng vai trò kép: vừa là đối tượng hưởng lợi từ nền tảng số đô thị (dịch vụ công nhanh hơn, thông tin minh bạch hơn, chi phí giao dịch thấp hơn), vừa là chủ thể tạo ra nội dung và dịch vụ cho hệ sinh thái (thương mại điện tử, logistics số, nông nghiệp thông minh). Al-Omoush và cộng sự (2022) xác nhận chuyển đổi số có tác động tích cực đến năng lực đổi mới của DNNVV thông qua vai trò trung gian của quản trị tri thức số.
Khung phân tích: Ba tầng tác động của đô thị thông minh đến chuyển đổi số DNNVV
Dựa trên nghiên cứu của World Bank (2022) trên 45 nền kinh tế đang phát triển và mô hình tích hợp đô thị, bài viết xây dựng khung phân tích “ba tầng tác động” để đánh giá khả năng lan tỏa của đô thị thông minh tới cộng đồng DNNVV tại Cần Thơ:
Tầng 1 - Hạ tầng số đô thị: IOC, mạng 5G, cổng dữ liệu mở giúp giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng tiếp cận thị trường;
Tầng 2 - Chính quyền số: Dịch vụ công trực tuyến toàn trình, chuyển đổi số hành chính giúp giảm chi phí tuân thủ và tăng tính minh bạch;
Tầng 3 - Nguồn nhân lực số: Chương trình đào tạo kỹ năng số ứng dụng cho DNNVV và lao động địa phương giúp nâng cao năng lực quản trị nội bộ và đổi mới sáng tạo.
Ba tầng này khi được kết nối đồng bộ sẽ tạo điều kiện nền để DNNVV chuyển đổi số thực chất, cải thiện năng suất lao động và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GRDP lẫn quy mô kinh tế số. Khung phân tích được hệ thống hóa trong Hình 1.
Hình 1: Khung phân tích 3 tầng tác động của đô thị thông minh đến chuyển đổi số DNNVV tại Cần Thơ
| HỆ SINH THÁI ĐÔ THỊ THÔNG MINH - CẦN THƠ (Điều kiện nền) |
| |
| ① HẠ TẦNG SỐ - IOC, 5G, Open Data - Băng rộng | ② CHÍNH QUYỀN SỐ - Dịch vụ công trực tuyến toàn trình - Chuyển đổi số hành chính | ③ NHÂN LỰC SỐ - Kỹ năng số DNNVV - Đào tạo nghề số |
| ▼ Ba tầng tác động cộng hưởng ▼ |
| |
| DNNVV CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG HỆ SINH THÁI ĐÔ THỊ THÔNG MINH CẦN THƠ - Giảm chi phí giao dịch - Tăng tiếp cận thị trường - Cải thiện năng suất |
| |
| ▼ Tác động kinh tế ▼ |
| |
| GRDP ↑ - Mục tiêu 2025: 7,23% - Mục tiêu 2030: ≥ 8,5% | KINH TẾ SỐ ↑ - Hiện nay: ~10% GRDP - Mục tiêu 2030: ≥ 20% | VIỆC LÀM ↑ - 5.000 DNNVV tích hợp số - ≥ 10.000 lao động số được đào tạo |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ Bộ Chính trị (2024), Meijer và Bolívar (2023), Al-Omoush và cộng sự (2024), World Bank (2024)
THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ DNNVV TRONG HỆ SINH THÁI ĐÔ THỊ THÔNG MINH TẠI CẦN THƠ (2022-2025)
Bức tranh kinh tế DNNVV vùng ĐBSCL và Cần Thơ năm 2025
Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025 (VCCI & Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, 2026) mô tả bức tranh doanh nghiệp vùng với nhiều điểm nghẽn cấu trúc nghiêm trọng: toàn vùng chỉ có gần 70.000 doanh nghiệp đang hoạt động, mật độ 4,1/1.000 dân - thấp nhất cả nước; 87,8% DNNVV ở quy mô siêu nhỏ; năng suất lao động chỉ xấp xỉ 133 triệu đồng/lao động/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 16,3% năm 2024 - cũng ở mức thấp nhất cả nước. Chi phí logistics chiếm 20-25% tổng chi phí sản phẩm nông sản, cao hơn đáng kể so với bình quân cả nước.
Tại Cần Thơ, dù GRDP năm 2025 tăng 7,23% và GRDP bình quân đầu người vượt 120 triệu đồng, nhưng đóng góp của kinh tế số vào GRDP ước tính chưa đến 10% - khoảng cách còn rất xa so với mục tiêu 20% vào năm 2030.
Bảng 1 hệ thống hóa các chỉ tiêu theo chuỗi thời gian 2022-2025.
Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế DNNVV và chuyển đổi số - Cần Thơ và ĐBSCL (2022-2025)
| Chỉ tiêu | 2022 | 2023 | 2024 | 2025 |
|---|---|---|---|---|
| Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động - ĐBSCL | ~66.000 | ~67.500 | ~68.000 | ~70.000 |
| Mật độ doanh nghiệp/1.000 dân - ĐBSCL | - | 4,1 | 4,1 | 4,1 |
| Tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ vùng ĐBSCL (%) | ~85 | ~86 | ~87 | 87,8 |
| Năng suất lao động ĐBSCL (triệu đồng/lao động/năm) | ~120 | ~125 | ~130 | ~133 |
| Tỷ lệ lao động qua đào tạo ĐBSCL (%) | ~14 | ~14,5 | 16,3 | 16,3 |
| Doanh nghiệp công nghệ số cả nước (nghìn) | ~18 | ~28 | ~48 | ~60* |
| Dịch vụ công trực tuyến toàn trình Cần Thơ (%) | ~55 | ~75 | ≥ 80 | ~95 |
| Doanh nghiệp dùng hóa đơn điện tử - Cần Thơ (%) | ~85 | ~92 | ~99 | ~99 |
| GRDP Cần Thơ tăng trưởng (%) | 9,08 | 5,75 | 7,12 | 7,23 |
Ghi chú: (*) Ước tính; (-) Không có số liệu.
Nguồn: VCCI & Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (2026), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), Bộ Thông tin và Truyền thông (2024), Thống kê TP. Cần Thơ (2026)
Mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của DNNVV Cần Thơ theo 6 chiều
Khảo sát sơ cấp được thực hiện trong quý IV/2024 trên mẫu ngẫu nhiên N = 120 DNNVV đang hoạt động trên địa bàn TP. Cần Thơ. Hình 2 thể hiện mức độ sẵn sàng với thang điểm 1-5, được xây dựng dưới dạng bảng - có thể chỉnh sửa điểm số, nhãn và màu sắc trực tiếp trong Word.
Hình 2: Mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của DNNVV tại TP. Cần Thơ
theo 6 chiều (thang 1-5)
![]() |
Ghi chú: * Thanh màu xanh lá = Mạnh (≥ 4,0); Thanh màu xanh dương = Trung bình khá (3,0-3,9); Thanh màu cam/đỏ = Yếu (< 3,0).
Nguồn: Khảo sát của nhóm tác giả
Kết quả nổi bật: hóa đơn điện tử đạt điểm cao nhất (4,2/5) do quy định bắt buộc của Bộ Tài chính từ năm 2022; thanh toán số và thương mại điện tử ở mức khá nhờ sức phổ biến của Zalo Pay, VNPay, Shopee tại ĐBSCL. Ngược lại, phân tích dữ liệu kinh doanh (1,8/5) và kết nối chuỗi cung ứng số (2,1/5) - 2 chiều chuyển đổi số có tác động lớn nhất đến năng suất và khả năng tham gia chuỗi giá trị - lại là 2 điểm yếu nhất.
Khoảng trống giữa hạ tầng đô thị thông minh và DNNVV
Mặc dù Cần Thơ vận hành IOC từ năm 2022 và tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt gần 95% năm 2025, song 68% DNNVV chưa từng sử dụng hoặc biết đến bất kỳ dịch vụ số nào từ IOC Cần Thơ; chỉ 12% biết đến Cổng dữ liệu mở của Thành phố. Nguyên nhân là do IOC được thiết kế ưu tiên cho chức năng giám sát đô thị (giao thông, an ninh, phản ánh hiện trường) phục vụ quản lý nhà nước và người dân, thiếu API mở cung cấp dữ liệu kinh tế thương mại (như: lượng khách du lịch theo thời gian thực, lưu lượng vận tải hàng hóa, dự báo nhu cầu tiêu dùng địa phương). Bên cạnh đó, thiếu giao diện kết nối cho doanh nghiệp; không có đầu mối thể chế chuyên trách kết nối Ban Chỉ đạo chuyển đổi số với cộng đồng DNNVV địa phương.
Ma trận rào cản chuyển đổi số của DNNVV Cần Thơ
Bảng 2: Ma trận rào cản CĐS của DNNVV tại Cần Thơ - Mức độ tác động và khả năng can thiệp
| STT | Rào cản | Tỷ lệ DNNVV gặp phải (%) | Mức độ tác động | Khả năng can thiệp chính sách |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Chi phí đầu tư ban đầu cao (phần mềm, ERP, hệ thống) | 71 | Cao | Hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp; quỹ hỗ trợ DNNVV theo Luật số 04/2017/QH14 |
| 2 | Thiếu nhân lực có kỹ năng số | 64 | Cao | Chương trình đào tạo kỹ năng số phối hợp Đại học Cần Thơ với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Sở Nội vụ) |
| 3 | Thiếu nhận thức về lợi ích chuyển đổi số | 52 | Trung bình | Truyền thông, hội thảo, mô hình DNNVV số điển hình |
| 4 | Thiếu kết nối chuỗi cung ứng số | 48 | Cao | Sàn giao dịch số nông sản ĐBSCL; kết nối B2B qua IOC Cần Thơ |
| 5 | Hạ tầng số địa phương chưa đủ | 43 | Cao | Mở rộng 5G/băng rộng ra quận, huyện theo Nghị định số 269/2025/NĐ-CP |
| 6 | Thiếu chính sách ưu đãi cụ thể cho DNNVV số | 38 | Cao | Sandbox số cho DNNVV theo cơ chế đặc thù Nghị quyết số 45/2022/QH15 |
Nguồn: Khảo sát của tác giả; VCCI & Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (2026); Vương Quốc Thắng và Vương Quốc Hùng (2025)
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH TÍCH HỢP DNNVV VÀO HỆ SINH THÁI SỐ ĐÔ THỊ CẦN THƠ
Từ phân tích thực trạng và rào cản, bài viết đề xuất 6 nhóm giải pháp chính sách theo nguyên tắc “kết nối - kích hoạt - nâng đỡ”, nhằm đưa ít nhất 5.000 DNNVV Cần Thơ tích hợp thực chất vào hệ sinh thái số đô thị vào năm 2030 (Bảng 3).
Bảng 3: Sáu nhóm giải pháp chính sách tích hợp DNNVV vào hệ sinh thái đô thị thông minh Cần Thơ (2026-2030)
| STT | Nhóm giải pháp | Nội dung và cơ sở pháp lý | Chỉ tiêu đo lường đến năm 2030 |
|---|---|---|---|
| 1 | Mở API đô thị thông minh cho DNNVV | Công bố API mở từ IOC Cần Thơ cho DNNVV truy cập dữ liệu đô thị (giao thông, quy hoạch, thời tiết, người dùng); hướng dẫn kỹ thuật theo Luật Dữ liệu (2024) | ≥ 3.000 DNNVV kết nối API; ≥ 50 sản phẩm số mới trên nền tảng đô thị thông minh. |
| 2 | Sandbox số cho DNNVV | Áp dụng Nghị quyết số 45/2022/QH15 thành lập khu thử nghiệm chuyển đổi số tại VSIP Cần Thơ và Khu công nghiệp Ô Môn; miễn giảm thuế 3 năm cho mô hình kinh doanh số mới. | ≥ 200 DNNVV hoàn thành sandbox; ≥ 20 mô hình số được nhân rộng. |
| 3 | Tín dụng số cho DNNVV | Gói tín dụng ưu đãi lãi suất 2-3%/năm từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và ngân hàng thương mại; DNNVV đầu tư Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), phân tích dữ liệu, chuỗi cung ứng số theo Luật Hỗ trợ DNNVV (2017). | ≥ 1.500 DNNVV tiếp cận tín dụng số; giải ngân ≥ 500 tỷ đồng. |
| 4 | Đào tạo nhân lực số | Hợp tác Đại học Cần Thơ, trường nghề xây dựng chương trình kỹ năng số ứng dụng (phân tích dữ liệu, thương mại điện tử nông sản, logistics số) theo Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024). | ≥ 10.000 lao động DNNVV được đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo vùng ≥ 25%. |
| 5 | Sàn số nông sản ĐBSCL | Lấy Cần Thơ làm trung tâm dữ liệu và logistics số; kết nối DNNVV nông nghiệp với chuỗi cung ứng xuất khẩu; tích hợp IOC và truy xuất nguồn gốc theo Quyết định số 1519/QĐ-TTg (2023) | ≥ 5.000 DNNVV nông nghiệp lên sàn; giao dịch ≥ 2.000 tỷ đồng/năm. |
| 6 | Trung tâm Hỗ trợ chuyển đổi số DNNVV Cần Thơ | Đơn vị chuyên trách tư vấn chuyển đổi số miễn phí; kết nối chương trình LinkSME và hệ sinh thái đô thị thông minh Cần Thơ | ≥ 500 DNNVV được tư vấn/năm; chỉ số chuyển đổi số DNNVV vùng tăng ≥ 30%. |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả; Bộ Chính trị (2024); Quốc hội (2017, 2022, 2024)
Giải pháp 1 (mở API đô thị thông minh cho DNNVV) và giải pháp 6 (Trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số) có thể triển khai ngay trong năm 2026 với chi phí thấp và tác động lan tỏa rộng nhất - đây là “giải pháp cầu nối” giúp hạ tầng đô thị thông minh hiện có thực sự phát huy tác dụng đối với DNNVV. Giải pháp 5 (Sàn giao dịch số nông sản ĐBSCL) có tiềm năng kinh tế lớn nhất vì giải quyết trực tiếp điểm nghẽn “thiếu chuỗi giá trị số” - nguyên nhân cốt lõi khiến DNNVV nông nghiệp mắc kẹt ở quy mô siêu nhỏ. Đây cũng là giải pháp phù hợp nhất với vai trò “cực tăng trưởng số” mà Cần Thơ cần định vị theo Quyết định số 1519/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2023).
KẾT LUẬN
Bằng chứng từ Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL 2025 và khảo sát DNNVV Cần Thơ Q4/2024 xác nhận: mặc dù hạ tầng đô thị thông minh của Cần Thơ đã đạt kết quả đáng ghi nhận, song tác động lan tỏa đến DNNVV còn rất hạn chế. Vùng ĐBSCL tiếp tục gánh chịu “vòng xoáy đi xuống” với mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước (4,1/1.000 dân), năng suất lao động yếu (~133 triệu đồng/lao động/năm) và kỹ năng số của lực lượng lao động thấp (16,3% qua đào tạo). GRDP Cần Thơ năm 2025 tăng 7,23%, tích cực nhưng chưa đủ để đạt mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GRDP vào năm 2030 nếu không có đột phá trong tích hợp DNNVV vào hệ sinh thái số đô thị.
Để phá vỡ vòng xoáy này, chìa khóa không nằm ở việc mở rộng thêm hạ tầng đô thị thông minh, mà là thiết kế lại hệ sinh thái số đô thị để DNNVV trở thành thành phần cấu trúc, không chỉ là đối tượng thụ hưởng thụ động. Sáu nhóm giải pháp đề xuất, từ mở API đô thị thông minh cho DNNVV đến xây dựng Sàn giao dịch số nông sản ĐBSCL, hướng đến mục tiêu tích hợp ít nhất 5.000 DNNVV Cần Thơ vào hệ sinh thái số đô thị vào năm 2030, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế số chiếm ≥ 20% GRDP theo Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024).
Tài liệu tham khảo:
1. Al-Omoush, K.S., Simón-Moya, V. & Sendra-García, J. (2022). The impact of digital transformation strategy on innovation performance in SMEs: The mediating role of knowledge management. Journal of Business Research, 145, 43-58.
2. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024). Báo cáo thực trạng doanh nghiệp công nghệ số và chuyển đổi số tại Việt Nam.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Báo cáo đánh giá chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh/thành năm 2024. Hà Nội.
5. Chính phủ (2025). Nghị định số 269/2025/NĐ-CP quy định về phát triển đô thị thông minh.
6. Meijer, A. & Bolívar, M.P.R. (2016). Governing the smart city: A review of the literature on smart urban governance. International Review of Administrative Sciences, 82(2), 392-408.
7. Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ DNNVV số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017.
8. Quốc hội (2022). Nghị quyết số 45/2022/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Cần Thơ.
9. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024.
10. Thống kê TP. Cần Thơ (2026). Niên giám Thống kê TP. Cần Thơ 2025, Nxb Kinh tế - Tài chính.
11. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1519/QĐ-TTg ngày 02/12/2023 phê duyệt Quy hoạch TP. Cần Thơ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
12. UBND TP. Cần Thơ (2026). Đề án phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2040.
13. VCCI và Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) (2026). Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025: Phát triển doanh nghiệp - động lực then chốt cho tăng trưởng bền vững.
14. Vương Quốc Thắng, Vương Quốc Hùng (2025). Chuyển đổi số cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam - Thực trạng và khuyến nghị chính sách. https://lyluanchinhtri.vn/chuyen-doi-so-cho-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-viet-nam-thuc-trang-va-khuyen-nghi-chinh-sach-7054.html
15. World Bank (2022). Digital SMEs and Urban Infrastructure: Evidence from Developing Economies. Washington DC: World Bank Group.
| Ngày nhận bài: 7/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 19/10/2026 |
Các tin khác
Quản lý tổ chức đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh - Nghiên cứu tại Sở Tài chính tỉnh Đồng Tháp
Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản lý tài chính cá nhân của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Hà Nội
Đề xuất mô hình nghiên cứu về cá nhân hóa dựa trên AI và lòng trung thành thương hiệu đa chiều đối với khóa học trực tuyến thương mại
Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã
Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Thực trạng phong cách lãnh đạo và kết quả đổi mới sáng tạo của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Mối quan hệ giữa đào tạo, hiệu quả công việc và bán hàng: Tổng quan từ trắc lượng thư mục
Phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030: Cơ sở lý luận, thực trạng và hàm ý chính sách cho Việt Nam
