Ảnh hưởng của các hoạt động marketing số đến kết quả marketing số cảm nhận của homestay tại Sa Pa, Lào Cai

Nghiên cứu - Trao đổi 17:07 | 15/07/2026
Sa Pa là một trong những điểm đến tiêu biểu của du lịch cộng đồng tại Việt Nam, nổi bật với hệ thống homestay gắn liền với trải nghiệm văn hóa bản địa.

ThS. Trần Thị Lan Hương (Tác giả liên hệ)

Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Đại học Công nghiệp Hà Nội;

NCS, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Email: huongttl@haui.edu.vn

PGS.TS. Vũ Đình Hòa

Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Học viên cao học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của 5 hoạt động marketing số, gồm Tiếp thị nội dung số, Quản trị kênh marketing số, Tương tác khách hàng trực tuyến, Quản trị danh tiếng trực tuyến và Sử dụng phản hồi từ kênh số, đến Kết quả marketing số cảm nhận của các homestay tại Sa Pa, Lào Cai. Kết quả cho thấy có 4 hoạt động marketing số tác động tích cực đến Kết quả marketing số cảm nhận, trong đó Quản trị kênh marketing số và Sử dụng phản hồi từ kênh số là những yếu tố có ảnh hưởng nổi bật. Trong khi đó, Quản trị danh tiếng trực tuyến chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò của mô hình marketing số tích hợp đối với các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ, đồng thời gợi ý các chương trình hỗ trợ cần ưu tiên nâng cao năng lực quản trị kênh số và khai thác hiệu quả phản hồi của khách hàng nhằm cải thiện kết quả marketing số tại các điểm đến du lịch cộng đồng.

Từ khóa: Du lịch cộng đồng, homestay, kết quả marketing số cảm nhận, Sa Pa

Abstract

This study examines the effects of five digital marketing activities, namely digital content marketing, digital marketing channel management, online customer interaction, online reputation management, and the use of digital customer feedback, on the perceived digital marketing performance of homestays in Sa Pa, Lao Cai, Vietnam. The findings indicate that four digital marketing activities have a positive influence on perceived digital marketing performance, with digital marketing channel management and the use of digital customer feedback emerging as the most influential factors. In contrast, online reputation management does not exhibit a statistically significant effect. The study provides empirical evidence supporting the role of an integrated digital marketing model for small-scale accommodation businesses. It also suggests that support programs should prioritize strengthening digital channel management capabilities and enhancing the effective use of customer feedback to improve digital marketing performance at community-based tourism destinations.

Keywords: Community-based tourism, homestay, perceived digital marketing performance, Sa Pa

GIỚI THIỆU

Sự dịch chuyển hành vi tìm kiếm và đặt dịch vụ lưu trú sang môi trường số đang làm thay đổi cách các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ tiếp cận và thu hút khách hàng. Đối với homestay, loại hình lưu trú mà chất lượng trải nghiệm khó có thể được kiểm chứng trước khi khách đến, mức độ phụ thuộc vào hồ sơ trực tuyến, hình ảnh, đánh giá của khách hàng và khả năng phản hồi của chủ cơ sở càng trở nên rõ nét (Tran, 2020).

Sa Pa, Lào Cai là một trong những điểm đến tiêu biểu của du lịch cộng đồng tại Việt Nam, nổi bật với hệ thống homestay gắn liền với trải nghiệm văn hóa bản địa. Định hướng phát triển loại hình du lịch này được thể hiện trong Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 20/3/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển du lịch cộng đồng và Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 27/8/2021 của Tỉnh ủy Lào Cai về phát triển du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển homestay gắn với chuyển đổi số và nâng cao năng lực quảng bá điểm đến. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn homestay tại Sa Pa vẫn có quy mô hộ gia đình, nguồn lực tài chính và nhân sự hạn chế, khiến việc triển khai các hoạt động marketing số còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của chủ cơ sở.

Các nghiên cứu trước đây đã xem xét nhiều thành phần của marketing số trong lĩnh vực lưu trú, bao gồm marketing trên mạng xã hội (Kaplan và Haenlein, 2010), nền tảng đặt phòng trực tuyến (Kapri và Sharma, 2024), đánh giá trực tuyến (Litvin và cộng sự, 2008; Schuckert và cộng sự, 2015; Tran, 2020) và quản trị quan hệ khách hàng trên môi trường số (Nguyen Dang Hat và cộng sự, 2025). Mặc dù vậy, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào khách sạn hoặc các cơ sở lưu trú quy mô lớn, đồng thời xem xét riêng lẻ từng công cụ marketing số. Các bằng chứng thực nghiệm đối với mô hình homestay, đặc biệt tại các điểm đến du lịch cộng đồng ở Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Đối với Sa Pa, nghiên cứu của Lê Thị Hiền Thanh (2008) được thực hiện trước khi OTA, mạng xã hội và Google Maps trở thành những kênh tương tác chủ đạo giữa cơ sở lưu trú và khách du lịch, do đó chưa phản ánh đầy đủ bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Xuất phát từ khoảng trống đó, nghiên cứu kiểm định ảnh hưởng của 5 hoạt động marketing số đến kết quả marketing số cảm nhận của chủ hoặc người quản lý homestay tại Sa Pa. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về marketing số trong lĩnh vực homestay, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương trình hỗ trợ và nâng cao năng lực số đối với các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Marketing số trong lưu trú

Marketing số là quá trình sử dụng công nghệ, nền tảng, kênh và dữ liệu số để đạt được các mục tiêu marketing (Chaffey và Ellis-Chadwick, 2019). Đồng thời, đây cũng là quá trình tạo ra giá trị trong môi trường số, nơi doanh nghiệp, khách hàng và các nền tảng tương tác với nhau thông qua nhiều điểm chạm trong hành trình khách hàng (Kannan và Li, 2017).

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng khung RACE của Chaffey và Ellis-Chadwick (2019) kết hợp với lý thuyết hành trình khách hàng đa điểm chạm của Lemon và Verhoef (2016) làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu (Hình 1). Theo đó, 5 nhóm hoạt động marketing số được xác định là các biến độc lập, gồm: Tiếp thị nội dung số (NDS), Quản trị kênh marketing số (KMS), Tương tác khách hàng trực tuyến (TKT), Quản trị danh tiếng trực tuyến (DTT) và Sử dụng phản hồi từ kênh số (PHK). Biến phụ thuộc là Kết quả marketing số cảm nhận (KQMS), phản ánh mức độ cải thiện về nhận biết, khả năng tiếp cận khách hàng và tương tác với khách theo đánh giá của chủ hoặc người quản lý homestay.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Ảnh hưởng của các hoạt động marketing số đến kết quả marketing số cảm nhận của homestay tại Sa Pa, Lào Cai

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Giả thuyết nghiên cứu được trình bày như sau:

H1: Tiếp thị nội dung số có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả marketing số cảm nhận của homestay.

H2: Quản trị kênh marketing số có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả marketing số cảm nhận của homestay.

H3: Tương tác khách hàng trực tuyến có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả marketing số cảm nhận của homestay.

H4: Quản trị danh tiếng trực tuyến có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả marketing số cảm nhận của homestay.

H5: Sử dụng phản hồi từ kênh số có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả marketing số cảm nhận của homestay.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế định lượng cắt ngang, khảo sát bằng bảng hỏi với thang đo Likert 5 mức đối với chủ/người quản lý homestay tại Sa Pa từ ngày 15/8-28/9/2025. Thang đo gồm 25 biến quan sát, trong đó có 20 biến đo lường 5 nhân tố độc lập (mỗi nhân tố gồm 4 biến quan sát) và 5 biến đo lường kết quả marketing số cảm nhận. Các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước về marketing số trong lĩnh vực lưu trú, đồng thời được phát triển và hiệu chỉnh dựa trên khung RACE thông qua phỏng vấn sơ bộ với 10 chủ hoặc người quản lý homestay.

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp phi xác suất, kết hợp chọn mẫu có chủ đích và thuận tiện. Nhóm tác giả thu được 214 phiếu khảo sát, sau khi loại bỏ 14 phiếu không hợp lệ còn 200 phiếu được sử dụng cho phân tích, tương ứng tỷ lệ 8 quan sát trên một biến. Dữ liệu được thu thập chủ yếu thông qua khảo sát trực tiếp (47,5%) và khảo sát trực tuyến (44,0%), phần còn lại thông qua sự hỗ trợ của các cơ quan, hội nhóm địa phương và các kênh khác.

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS theo các bước: kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach's Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng phương pháp trích Principal Axis Factoring kết hợp phép xoay Promax; phân tích tương quan Pearson; và hồi quy tuyến tính bội để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố marketing số đến kết quả marketing số cảm nhận, đồng thời kiểm soát các đặc điểm của homestay như quy mô số phòng, thời gian hoạt động và kinh nghiệm sử dụng kênh số. Bên cạnh đó, nghiên cứu kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, các giả định của mô hình hồi quy, sai lệch phương pháp chung bằng kiểm định Harman's single-factor và tính cỡ ảnh hưởng riêng phần (f²) theo Cohen (1988).

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Thống kê mô tả

Bảng 1 và Hình 2 cho thấy, Tương tác khách hàng trực tuyến là hoạt động marketing số được các homestay triển khai ở mức cao nhất, trong khi Sử dụng thông tin phản hồi từ kênh số có điểm trung bình thấp nhất trong năm hoạt động được khảo sát.

Bảng 1: Thống kê mô tả các nhân tố nghiên cứu

Nhân tố

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Xếp hạng mức triển khai

Tương tác khách hàng trực tuyến (TKT)

3,734

0,540

1

Tiếp thị nội dung số (NDS)

3,590

0,606

2

Quản trị kênh marketing số (KMS)

3,487

0,625

3

Quản trị danh tiếng trực tuyến (DTT)

3,366

0,623

4

Sử dụng phản hồi từ kênh số (PHK)

3,209

0,682

5

Kết quả marketing số cảm nhận (KQMS)

3,522

0,614

-

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Hình 2: Điểm trung bình các nhân tố nghiên cứu

Ảnh hưởng của các hoạt động marketing số đến kết quả marketing số cảm nhận của homestay tại Sa Pa, Lào Cai

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Độ tin cậy thang đo, cấu trúc nhân tố và thống kê mô tả

Bảng 1 cho biết, toàn bộ 6 thang đo đạt độ tin cậy tốt với hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,726 đến 0,831; tương quan biến-tổng nhỏ nhất của mỗi thang đo đều trên 0,48, do đó không có biến quan sát nào cần loại bỏ.

Bảng 1: Kết quả kiểm định Cronbach's Alpha

Nhân tố

Số biến quan sát

Cronbach's Alpha

Tương quan biến-tổng thấp nhất

Tiếp thị nội dung số (NDS)

4

0,808

0,607

Quản trị kênh marketing số (KMS)

4

0,811

0,615

Tương tác khách hàng trực tuyến (TKT)

4

0,726

0,487

Quản trị danh tiếng trực tuyến (DTT)

4

0,814

0,607

Sử dụng phản hồi từ kênh số (PHK)

4

0,831

0,616

Kết quả marketing số cảm nhận (KQMS)

5

0,815

0,508

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Kết quả phân tích EFA đối với các biến độc lập cho thấy, dữ liệu phù hợp để phân tích với hệ số KMO = 0,824 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Chi-square = 1.404,950; df = 190; p < 0,001). Kết quả trích được 5 nhân tố có Eigenvalue > 1, với tổng phương sai trích đạt 51,29%. Toàn bộ 20 biến quan sát đều tải đúng vào nhân tố lý thuyết tương ứng, với hệ số tải từ 0,571 đến 0,793 và không xuất hiện hiện tượng tải chéo đáng kể.

Đối với biến phụ thuộc, Kết quả marketing số cảm nhận được trích thành một nhân tố duy nhất (KMO = 0,819), với hệ số tải dao động từ 0,571 đến 0,810 và phương sai trích đạt 47,46%.

Như vậy, kết quả EFA xác nhận cấu trúc thang đo gồm 5 nhân tố độc lập và 1 nhân tố phụ thuộc, đáp ứng yêu cầu về giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo.

Phân tích tương quan và kiểm định mô hình hồi quy

Kết quả phân tích tương quan cho thấy cả 5 hoạt động marketing số đều có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê ở mức 0,1% với Kết quả marketing số cảm nhận, với hệ số tương quan dao động từ 0,320 đến 0,477. Ngoại trừ mối tương quan giữa quản trị danh tiếng trực tuyến và tương tác khách hàng trực tuyến không có ý nghĩa thống kê (r = 0,099; p = 0,163), các cặp biến còn lại đều có tương quan ở mức phù hợp.

Kết quả hồi quy ở Hình 3 cho thấy mô hình cơ bản gồm 5 biến độc lập giải thích được 39,8% sự biến thiên của Kết quả marketing số cảm nhận (R² hiệu chỉnh = 0,398; F(5;194) = 27,286; p < 0,001). Khi bổ sung các biến kiểm soát (quy mô homestay, thời gian hoạt động, khu vực hoạt động, độ tuổi chủ cơ sở, trình độ học vấn của chủ cơ sở), R² hiệu chỉnh tăng lên 0,413, tương ứng mức gia tăng 2,4% (ΔR² = 0,024; F-change(3;191) = 2,664; p = 0,049), cho thấy các biến kiểm soát giúp cải thiện nhẹ khả năng giải thích của mô hình.

Bảng 3: Kết quả hồi quy tuyến tính bội và kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Biến độc lập

Beta chuẩn hóa

t

Sig.

Kết luận

H1

Tiếp thị nội dung số (NDS)

0,193

3,148

0,002

0,051 (nhỏ)

Chấp nhận

H2

Quản trị kênh marketing số (KMS)

0,278

4,516

< 0,001

0,105 (nhỏ đến gần trung bình)

Chấp nhận

H3

Tương tác khách hàng trực tuyến (TKT)

0,148

2,478

0,014

0,032 (nhỏ)

Chấp nhận

H4

Quản trị danh tiếng trực tuyến (DTT)

0,100

1,675

0,096

0,015 (dưới ngưỡng nhỏ)

Không chấp nhận

H5

Sử dụng phản hồi từ kênh số (PHK)

0,247

4,025

< 0,001

0,084 (nhỏ)

Chấp nhận

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Các kiểm định bổ sung cho thấy mô hình đáp ứng các giả định cần thiết của hồi quy. Cụ thể, tất cả hệ số VIF đều nhỏ hơn 1,3, cho thấy không có đa cộng tuyến đáng kể; thống kê Durbin-Watson đạt 2,084, không có dấu hiệu tự tương quan của sai số; kiểm định Shapiro-Wilk (W = 0,995; p = 0,682) và Breusch-Pagan (LM = 7,681; p = 0,175) cho thấy các giả định về phân phối chuẩn của phần dư và phương sai không đổi không bị vi phạm. Bên cạnh đó, kiểm định Harman's single-factor cho thấy nhân tố đầu tiên chỉ giải thích 27,3% tổng phương sai, thấp hơn ngưỡng 50% của Podsakoff và cộng sự (2003), cho thấy sai lệch phương pháp chung không đáng kể.

Như vậy 4 giả thuyết (H1, H2, H3, H5) được ủng hộ ở mức ý nghĩa 5%. Quản trị kênh marketing số có ảnh hưởng mạnh nhất (Beta = 0,278), tiếp theo là sử dụng thông tin phản hồi từ kênh số (Beta = 0,247), tiếp thị nội dung số (Beta = 0,193) và tương tác khách hàng trực tuyến (Beta = 0,148). Ngược lại, H4 không được chấp nhận do Quản trị danh tiếng trực tuyến không đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,096).

Thảo luận

Kết quả cho thấy Quản trị kênh marketing số có ảnh hưởng mạnh nhất đến Kết quả marketing số cảm nhận, phù hợp với nghiên cứu của Kapri và Sharma (2024) về vai trò của nền tảng đặt phòng và mạng xã hội đối với homestay, cũng như Võ Thị Ngân và Phạm Đinh Khang (2024) về tác động của thông tin và chính sách trên nền tảng đặt phòng trực tuyến đến quyết định đặt phòng khách sạn. Điều này cho thấy việc duy trì thông tin đầy đủ, nhất quán và dễ tiếp cận trên các kênh số là yếu tố then chốt đối với hiệu quả marketing của các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ.

Đáng chú ý, Sử dụng thông tin phản hồi từ kênh số có điểm trung bình thấp nhất trong năm nhóm hoạt động (M = 3,209) nhưng lại có ảnh hưởng mạnh thứ hai trong mô hình hồi quy. Kết quả này củng cố lập luận của Le và cộng sự (2024) về giá trị quản trị của việc khai thác phản hồi khách hàng, đồng thời cho thấy đây là hoạt động còn nhiều dư địa cải thiện đối với các homestay.

Ngược lại, Quản trị danh tiếng trực tuyến không có ảnh hưởng độc lập có ý nghĩa thống kê. Kết quả này không phủ nhận vai trò của đánh giá trực tuyến đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước (Litvin và cộng sự, 2008; Schuckert và cộng sự, 2015; Tran, 2020), mà cho thấy tác động của hoạt động này có thể gắn với năng lực và kinh nghiệm sử dụng kênh số của chủ cơ sở. Đây là gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo xem xét vai trò trung gian hoặc điều tiết của các yếu tố này.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Nghiên cứu đã kiểm định mô hình tích hợp gồm năm hoạt động marketing số ảnh hưởng đến Kết quả marketing số cảm nhận của các homestay tại Sa Pa, trong đó bốn giả thuyết được chấp nhận. Về mặt lý thuyết, nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho cách tiếp cận tích hợp các hoạt động marketing số theo hành trình khách hàng, thay vì xem xét riêng lẻ từng công cụ, đồng thời điều chỉnh mô hình phù hợp với bối cảnh các cơ sở lưu trú quy mô hộ gia đình.

Về mặt thực tiễn, dựa trên kết quả Hình 3, nhóm tác giả gợi ý các chương trình hỗ trợ và đào tạo marketing số cho homestay cần ưu tiên hai nhóm nội dung. Thứ nhất, cơ quan quản lý du lịch địa phương và các đơn vị đào tạo cần hướng dẫn các cơ sở lưu trú chuẩn hóa, đồng bộ và thường xuyên cập nhật thông tin trên các kênh số, bởi quản trị kênh marketing số là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến kết quả marketing số cảm nhận. Thứ hai, cần nâng cao năng lực ghi nhận, phân tích và khai thác phản hồi của khách hàng, vì sử dụng thông tin phản hồi từ kênh số có mức độ triển khai thấp nhất nhưng lại có tác động lớn thứ hai, cho thấy đây là hoạt động còn nhiều dư địa để cải thiện hiệu quả marketing số.

Hình 3: Ma trận ưu tiên: mức triển khai hiện tại và mức tác động đến kết quả marketing số cảm nhận

Ảnh hưởng của các hoạt động marketing số đến kết quả marketing số cảm nhận của homestay tại Sa Pa, Lào Cai

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, dữ liệu được thu thập theo thiết kế cắt ngang và từ cùng một người trả lời, nên nguy cơ sai lệch phương pháp chung chưa thể loại bỏ hoàn toàn, mặc dù kiểm định Harman's single-factor không cho thấy đây là vấn đề đáng kể. Thứ hai, biến phụ thuộc phản ánh kết quả marketing số cảm nhận thay vì các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh khách quan, do đó cần thận trọng khi diễn giải và khái quát kết quả. Thứ ba, mẫu được lựa chọn theo phương pháp phi xác suất nên khả năng khái quát hóa còn hạn chế. Trong các nghiên cứu tiếp theo, có thể kiểm định vai trò trung gian hoặc điều tiết của kinh nghiệm sử dụng kênh số đối với ảnh hưởng của quản trị danh tiếng trực tuyến, áp dụng thiết kế nghiên cứu dọc và bổ sung các chỉ tiêu marketing hoặc hiệu quả kinh doanh khách quan để tăng độ tin cậy và khả năng khái quát của kết quả.

(*) Lời cảm ơn: Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Công nghiệp Hà Nội, hợp đồng số 35-2024-RD/HĐ-ĐHCN; nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Nhà trường đã tạo điều kiện về kinh phí và thời gian để thực hiện nghiên cứu. Nhóm tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cơ sở lưu trú homestay tại Sa Pa đã nhiệt tình tham gia khảo sát và cung cấp thông tin trong quá trình thu thập dữ liệu.

Tài liệu tham khảo:

1. Bollen, K. A. (1989). Structural equations with latent variables. Wiley.

2. Chaffey, D., & Ellis-Chadwick, F. (2019). Digital marketing: Strategy, implementation and practice (7th ed.). Pearson.

3. Cohen, J. (1988). Statistical power analysis for the behavioral sciences (2nd ed.). Lawrence Erlbaum Associates.

4. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Cengage.

5. Kannan, P. K., & Li, H. A. (2017). Digital marketing: A framework, review and research agenda. International Journal of Research in Marketing, 34(1), 22-45.

6. Kaplan, A. M., & Haenlein, M. (2010). Users of the world, unite! The challenges and opportunities of social media. Business Horizons, 53(1), 59-68.

7. Kapri, S. S., & Sharma, A. (2024). Digital marketing impact on rural homestay booking and role of destination image. Anatolia, 35(4), 764-776.

8. Le, T., Ho, T., Nguyen, V.-H., & Le, H.-S. (2024). How to deeply understand the voice of the customer? A proposal for a synthesis of techniques for analyzing online reviews in the hospitality industry. Journal of Hospitality and Tourism Insights, 7(3), 1435-1455.

9. Lemon, K. N., & Verhoef, P. C. (2016). Understanding customer experience throughout the customer journey. Journal of Marketing, 80(6), 69-96.

10. Lê Thị Hiền Thanh. (2008). Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch homestay ở Sa Pa (Lào Cai), Luận văn thạc sĩ. Đại học Quốc gia Hà Nội.

11. Litvin, S. W., Goldsmith, R. E., & Pan, B. (2008). Electronic word-of-mouth in hospitality and tourism management. Tourism Management, 29(3), 458-468.

12. Nguyen Dang Hat, Tan, K.-L., Nguyen Lam Ngoc Vi, Nguyen An Phu, & Ting, H. (2025). The influence of customer relationship management in enhancing hospitality business performance: The conditional mediation of digital marketing capabilities. International Journal of Hospitality & Tourism Administration, 26(3), 520-546.

13. Podsakoff, P. M., MacKenzie, S. B., Lee, J.-Y., & Podsakoff, N. P. (2003). Common method biases in behavioral research: A critical review of the literature and recommended remedies. Journal of Applied Psychology, 88(5), 879-903.

14. Schuckert, M., Liu, X., & Law, R. (2015). Hospitality and tourism online reviews: Recent trends and future directions. Journal of Travel & Tourism Marketing, 32(5), 608-621.

15. Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 20/3/2023 về phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch Quốc gia Sa Pa - thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đến năm 2040.

16. Tỉnh ủy Lào Cai (2021). Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 27/8/2021 về phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

17. Tran, L. T. T. (2020). Online reviews and purchase intention: A cosmopolitanism perspective. Tourism Management Perspectives, 35, Article 100722.

18. Võ Thị Ngân, & Phạm Đinh Khang (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đặt phòng trực tuyến của khách du lịch trên Booking.com tại các khách sạn 4 sao ở thành phố Huế. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển, 133(5B), 59-78.

Ngày nhận bài: 17/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 1/7/2026; Ngày duyệt đăng: 14/7/2026

Các tin khác

Tác động của người ảnh hưởng ảo đến ý định mua hàng trực tuyến: Vai trò của hài lòng thương hiệu, hình ảnh thương hiệu và khả năng trả cao hơn

Tác động của người ảnh hưởng ảo đến ý định mua hàng trực tuyến: Vai trò của hài lòng thương hiệu, hình ảnh thương hiệu và khả năng trả cao hơn

Tiếp thị người ảnh hưởng, đặc biệt là người ảnh hưởng ảo, đang trở thành công cụ truyền thông quan trọng trong quảng cáo kỹ thuật số. Với sức hấp dẫn thị giác, tính nhất quán thương hiệu và khả năng truyền tải thông điệp có chiến lược, người ảnh hưởng ảo có thể tác động đến niềm tin và hành vi của người tiêu dùng trên mạng xã hội.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp: Nghiên cứu tại Công ty TNHH DND Techh Vina

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp: Nghiên cứu tại Công ty TNHH DND Techh Vina

Quan điểm hiện đại xem lựa chọn nhà cung cấp là một quyết định chiến lược, có ảnh hưởng sâu rộng đến lợi thế cạnh tranh của toàn bộ doanh nghiệp. Hoạt động này không còn là nhiệm vụ riêng lẻ của bộ phận mua hàng mà là một phần tích hợp của quản trị chuỗi cung ứng tổng thể.
Phân tích tác động của các cú sốc tới giá trị của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam: Trường hợp điển hình giai đoạn COVID-19

Phân tích tác động của các cú sốc tới giá trị của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam: Trường hợp điển hình giai đoạn COVID-19

Đại dịch COVID-19 là một cú sốc bất thường đối với nền kinh tế toàn cầu, tác động mạnh đến hoạt động sản xuất - kinh doanh, thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng.
Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra nhanh chóng và lan tỏa sâu rộng, chuyển đổi số đã trở thành xu hướng tất yếu, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị của doanh nghiệp. Chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình hoạt động, từ đó tạo ra giá trị mới và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường kinh tế số.
Nghiên cứu các chính sách tài chính và đầu tư trong phát triển nguồn nhân lực cho đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam

Nghiên cứu các chính sách tài chính và đầu tư trong phát triển nguồn nhân lực cho đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam

Nghiên cứu tập trung phân tích nhóm chính sách tài chính và đầu tư (FI) nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nguồn nhân lực đường sắt tốc độ cao (HSR) tại Việt Nam.
Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hiện nay và một số gợi ý cho Việt Nam

Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hiện nay và một số gợi ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích quá trình hình thành, phát triển và những đặc trưng cơ bản của mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hiện nay.
Tác động của các đặc điểm quản lý đến hiệu quả hoạt động kinh doanh: Bằng chứng từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các đặc điểm quản lý đến hiệu quả hoạt động kinh doanh: Bằng chứng từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Quản trị doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc định hình hiệu quả hoạt động và bảo vệ lợi ích của cổ đông. Trong đó, bộ máy quản lý bao gồm hội đồng quản trị và ban điều hành chính là hạt nhân đưa ra các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.
Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo trong định giá căn hộ: Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo trong định giá căn hộ: Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh thị trường bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh đang trải qua nhiều biến động, việc thẩm định giá căn hộ trở thành một nhu cầu cấp thiết, đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính minh bạch, ổn định và hiệu quả cho các giao dịch.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó lâu dài của công nhân tại Nhà máy sợi Hòa Thọ 1 - Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hòa Thọ

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó lâu dài của công nhân tại Nhà máy sợi Hòa Thọ 1 - Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hòa Thọ

Tình trạng biến động lao động, chuyển sang ngành dịch vụ trong ngành hiện nay đang diễn ra phổ biến, đặc biệt là sự thiếu gắn bó lâu dài của công nhân tại các doanh nghiệp sản xuất. Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm gia tăng chi phí tuyển dụng, đào tạo và ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Nghiên cứu mối quan hệ lãnh đạo đổi mới với chủ động cá nhân hóa công việc và hiệu quả công việc tại doanh nghiệp công nghệ thông tin ở TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu mối quan hệ lãnh đạo đổi mới với chủ động cá nhân hóa công việc và hiệu quả công việc tại doanh nghiệp công nghệ thông tin ở TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh đổi mới ngày càng mạnh mẽ, các doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh đòi hỏi người lao động không chỉ có chuyên môn cao mà còn phải thích ứng nhanh và làm việc hiệu quả.