Yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình tại đảo Bích Đầm, Khánh Hòa

Nghiên cứu - Trao đổi 17:34 | 25/11/2025
Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia sinh kế du lịch của hộ gia đình tại đảo Bích Đầm, Khánh Hòa; từ đó, đề xuất một số khuyến nghị chính sách cho hộ gia đình tại đảo phát triển sinh kế từ hoạt động du lịch.

PGS. TS. Phạm Hồng Mạnh

Trường Đại học Nha Trang

Lê Công Minh

Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại Du lịch tỉnh Khánh Hòa

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia sinh kế du lịch của hộ gia đình tại đảo Bích Đầm, Khánh Hòa thông qua điều tra 200 hộ gia đình sống trên đảo. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, các yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát quyết định và Chính sách hỗ trợ tác động tích cực đến Ý định tham gia các hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm phát triển sinh kế cho hộ gia đình tại đảo Bích Đầm từ hoạt động du lịch.

Từ khóa: Ý định tham gia, hoạt động sinh kế dựa vào du lịch, du lịch hộ gia đình, đảo Bích Đầm

Summary

This study investigates the factors influencing households’ intention to participate in tourism-based livelihood activities on Bich Dam Island, Khanh Hoa, using survey data from 200 island households. Regression results indicate that Attitude, Subjective Norms, Perceived Behavioral Control, and Supportive Policies positively affect households’ intention to engage in tourism-related livelihoods. Based on these findings, the study proposes several policy recommendations to promote tourism-driven livelihood development for households on Bich Dam Island.

Keywords: Participation intention, tourism-based livelihood activities, household tourism, Bich Dam Island

GIỚI THIỆU

Đảo Bích Đầm (Khánh Hòa) là khu vực sở hữu cảnh quan đặc sắc và hệ sinh thái biển phong phú, đồng thời còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá truyền thống. Tuy nhiên, phần lớn hộ dân nơi đây vẫn dựa vào khai thác thuỷ sản ven bờ, lao động tự do và phụ thuộc nguồn lợi tự nhiên - đặc trưng của nhóm dễ tổn thương theo Khung sinh kế bền vững (DFID, 1999). Nhằm tạo nền tảng cho chuyển đổi sinh kế, UBND TP. Nha Trang (cũ) đã ban hành Đề án phát triển du lịch cộng đồng theo hướng xanh, bền vững tại đảo Bích Đầm (Quyết định 116/QĐ-UBND ngày 4/3/2025), định hướng các mô hình như: homestay, trải nghiệm ngư nghiệp, phục dựng lễ hội, thủ công mỹ nghệ… Mặc dù một số hộ đã bước đầu tham gia vào các hoạt động dịch vụ ăn uống, vận chuyển, hậu cần hoặc lao động thời vụ tại các điểm lân cận, cho thấy tín hiệu chuyển dịch về tư duy sinh kế (Nguyễn Quảng Nam, 2024), nhưng tỷ lệ tham gia còn hạn chế và mức độ gắn kết với chuỗi du lịch chưa cao.

Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này tập trung giải đáp 2 vấn đề trọng tâm: (i) Những yếu tố nào định hình ý định tham gia các hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình?; (ii) Yếu tố nào thúc đẩy hoặc cản trở việc chuyển từ ý định sang tham gia thực tế? Giải đáp thuyết phục 2 câu hỏi này là cơ sở quan trọng để xây dựng chính sách hỗ trợ đúng trọng tâm, phân bổ nguồn lực hiệu quả và giảm rủi ro chuyển đổi sinh kế cho người dân địa phương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) do Ajzen (1991) phát triển bắt nguồn từ lý thuyết hành động hợp lý. Theo đó, ý định là tiền đề trực tiếp của hành vi và được hình thành từ 3 cấu phần niềm tin: thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan (kỳ vọng/xã hội) và nhận thức kiểm soát hành vi (cảm nhận về nguồn lực - khả năng làm chủ). Ba cấu phần này không tồn tại độc lập mà chịu tác động của các biến bối cảnh bên ngoài (thể chế, xã hội, trải nghiệm), từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến ý định và quyết định tham gia.

Nhiều nghiên cứu khẳng định thái độ và nhận thức kiểm soát là các dự báo mạnh cho ý định (Huo và cộng sự, 2023). Một số nghiên cứu nhấn mạnh vai trò niềm tin xã hội/giữa các nhóm lợi ích và ảnh hưởng xã hội như chất xúc tác làm tăng trọng số của các biến TPB lên ý định (Rana và cộng sự, 2021).

Vượt ra lý thuyết TPB nguyên gốc, nhiều tác giả đã tích hợp biến bối cảnh để nâng cao sức giải thích trong các tình huống phụ thuộc tài nguyên và cộng đồng như: chính sách hỗ trợ, vốn/tập quán sinh kế, rào cản xã hội, hoặc động lực sinh thái (Zhang và cộng sự, 2023; Huo và cộng sự, 2025). Ở Việt Nam, bằng chứng thực nghiệm cho thấy TPB phù hợp với bối cảnh cộng đồng địa phương, từ du lịch làng nghề đến du lịch biển bền vững, đồng thời gợi ý mở rộng bằng yếu tố văn hoá bản địa, ảnh hưởng chính sách và tương tác xã hội trên nền tảng số (Đặng Thành Thức và cộng sự, 2024; Lê Chí Công và Đoàn Nguyễn Khánh Trân, 2023; Nguyễn Phúc Hưng và Đào Thị Tuyết Linh, 2025).

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào cơ sở lý thuyết nêu trên, nhóm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình tại đảo Bích Đầm như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả (2025)

Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, các giả thuyết được đưa ra như sau:

H1: Thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng tích cực đến Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình.

H2: Chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình.

H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình.

H4: Chính sách hỗ trợ có ảnh hưởng tích cực đến Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình.

H5: Tập quán sinh kế có ảnh hưởng tiêu cực đến Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của hộ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 bước: Nghiên cứu sơ bộ nhằm mục đích hiệu chỉnh mô hình và thiết kế phiếu điều tra; Nghiên cứu chính thức được sử dụng để phân tích số liệu nhằm kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

Về cỡ mẫu, dựa trên các phương pháp xác định thống kê, số lượng hộ gia đình tối thiểu cần khảo sát là 137 hộ. Tuy nhiên, để đảm bảo độ tin cậy và độ chính xác của phân tích, đồng thời dự phòng rủi ro phiếu bị lỗi, nhóm tác giả đã quyết định lựa chọn 200 hộ gia đình để tiến hành khảo sát chính thức.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả kiểm định thang đo

Kết quả Bảng 1 cho thấy tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt, với Cronbach’s Alpha dao động từ 0,760-0,831; đồng thời, tất cả hệ số tương quan biến - tổng đều > 0,50, đáp ứng tiêu chuẩn chấp nhận cho nghiên cứu ứng dụng.

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

Nhân tố

Cronbach’s Alpha

Thái độ đối với hành vi (TĐ)

0,796

Chuẩn chủ quan (CCQ)

0,831

Nhận thức kiểm soát quyết định (NT)

0,760

Chính sách hỗ trợ (CS)

0,795

Tập quán sinh kế (TQ)

0,774

Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch (YĐ)

0,814

Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của nhóm tác giả (2025)

Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Kết quả phân tích EFA cho thấy, hệ số KMO = 0,740 (> 0,5) và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000) với 5 nhân tố được rút trích tại Eigenvalue = 1,982, tổng phương sai trích đạt 62,883%. Các hệ số tải đều > 0,5 và không có biến quan sát nào bị loại bỏ. Như vậy, cấu trúc nhân tố rút ra phù hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu, đảm bảo giá trị hội tụ và sẵn sàng cho các phân tích hồi quy tiếp theo (Bảng 2).

Bảng 2: Kết quả phân tích EFA

Biến quan sát

Nhóm nhân tố

1

2

3

4

5

CCQ1

0,836

CCQ3

0,835

CCQ4

0,812

CCQ2

0,758

CS1

0,824

CS3

0,787

CS2

0,784

CS4

0,743

TĐ1

0,834

TĐ4

0,788

TĐ2

0,780

TĐ3

0,736

TQ2

0,796

TQ3

0,790

TQ1

0,763

TQ4

0,735

NT3

0,776

NT2

0,757

NT4

0,757

NT1

0,735

KMO = 0,74 (Sig. = 0.000)

Tổng phương sai trích = 62,883%

Eigenvalues = 1,982

Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của nhóm tác giả (2025)

Đối với biến phụ thuộc Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch, kết quả EFA cho thấy hệ số KMO = 0,715 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000). Ba biến quan sát đều tải mạnh trên cùng một nhân tố với hệ số tải từ 0,846 trở lên. Nhân tố duy nhất được trích tại Eigenvalue = 2,195, giải thích 73,174% tổng phương sai. Điều này khẳng định thang đo Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch có tính đơn hướng cao và đạt yêu cầu thống kê để sử dụng trong các bước phân tích tiếp theo.

Kết quả phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết

Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với biến phụ thuộc là Ý định tham gia hoạt động sinh kế dựa vào du lịch và các biến độc lập gồm: Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát quyết định, Chính sách hỗ trợ và Tập quán sinh kế cho thấy mô hình có độ phù hợp tốt. Giá trị R² điều chỉnh = 0,401, có nghĩa mô hình giải thích được khoảng 40,1% sự biến thiên của ý định tham gia. Đây là mức chấp nhận được trong các nghiên cứu xã hội học với dữ liệu chéo. Chỉ số Durbin-Watson = 1,900 nằm trong khoảng 1,5-2,5, cho thấy mô hình không có hiện tượng tự tương quan phần dư.

Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu khẳng định các biến độc lập: Thái độ đối với hành vi, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát quyết định, Chính sách hỗ trợ đều có ảnh hưởng đến Ý định tham gia du lịch của hộ gia đình tại đảo Bích Đầm. Trong đó, Thái độ đối với hành vi có tác động mạnh nhất với hệ số Beta = 0,326, Sig. = 0,000; Chuẩn chủ quan cũng có ảnh hưởng tích cực với Beta = 0,254 và Sig. = 0,000; Nhận thức kiểm soát quyết định có tác động dương với Beta = 0,287, Sig. = 0,000 và Chính sách hỗ trợ cũng có ảnh hưởng tích cực với Beta = 0,229, Sig. = 0,000.

Tuy nhiên, Tập quán sinh kế lại có tác động ngược chiều đến Ý định tham gia với Beta = -0,225 và Sig. = 0,000. Điều này phản ánh sự gắn bó với nghề truyền thống, tâm lý e ngại thay đổi hoặc phụ thuộc vào nghề cũ là những rào cản đáng kể trong quá trình chuyển đổi sang du lịch (Bảng 3).

Bảng 3: Kết quả phân tích hồi quy

Hệ số hồi quy

chưa chuẩn hoá

Hệ số hồi quy

chuẩn hoá

T

Sig.

Thống kê cộng tuyến

B

Độ lệch chuẩn

Beta

Tolerance

VIF

Hằng số

0,838

0,323

2.594

0,010

TĐ

0,248

0,042

0,326

5.894

0,000

0,982

1,018

CCQ

0,192

0,042

0,254

4.536

0,000

0,957

1,045

NT

0,230

0,045

0,287

5.098

0,000

0,949

1,054

CS

0,184

0,044

0,229

4.144

0,000

0,987

1,013

TQ

-0,176

0,043

-0,225

-4.072

0,000

0,983

1,017

Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của nhóm tác giả (2025)

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kết quả hồi quy tuyến tính giải thích 40,1% sự biến thiên của ý định tham gia du lịch. Trong đó, Thái độ đối với hành vi, Nhận thức kiểm soát quyết định, Chuẩn chủ quan và Chính sách hỗ trợ có ảnh hưởng tích cực, trong khi Tập quán sinh kế có tác động tiêu cực.

Kết quả về kiểm định giả thuyết bằng mô hình hồi quy cho thấy, tác động của các yếu tố đến ý định tham gia các hoạt động sinh kế dựa vào du lịch của người dân đảo Bích Đầm phù hợp với nghiên cứu ban đầu đặt ra. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau:

Một là, tăng cường truyền thông - giáo dục cộng đồng nhằm nâng cao hiểu biết về lợi ích của du lịch cộng đồng đối với kinh tế hộ gia đình và phát triển địa phương. Việc truyền thông nên thực hiện bằng các hình thức gần gũi, trực quan như: phim tài liệu, tọa đàm, pano, áp phích tại các điểm công cộng. Đồng thời, khuyến khích sự tham gia của những người có ảnh hưởng trong cộng đồng, xây dựng mạng lưới “hộ đi trước dẫn dắt hộ mới”. Bên cạnh đó, cần tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn, thực hành tại chỗ, kết hợp với việc lồng ghép nội dung du lịch vào các chương trình giảm nghèo, nông thôn mới và phát triển kinh tế biển để tăng tính cộng hưởng chính sách.

Hai là, chính quyền địa phương cần ban hành chính sách chuyên biệt cho đảo Bích Đầm với mục tiêu, lộ trình và cơ chế ưu đãi cụ thể về vốn, thuế, đất đai và đầu tư hạ tầng. Đồng thời, tăng cường vai trò điều phối của chính quyền xã thông qua việc thành lập tổ công tác chuyên trách, hỗ trợ thủ tục pháp lý, kết nối hộ dân với doanh nghiệp du lịch và tổ chức đối thoại định kỳ để kịp thời tháo gỡ vướng mắc. Ngoài ra, cần lồng ghép các chương trình quốc gia, như: OCOP, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững để tận dụng nguồn lực và hướng dẫn người dân tiếp cận chính sách. Việc triển khai các mô hình thí điểm có hỗ trợ của Nhà nước sẽ giúp tạo niềm tin và lan tỏa hiệu quả.

Ba là, thay đổi tập quán và giảm rào cản văn hóa trong phát triển du lịch: Cần xây dựng chiến lược tiếp cận văn hóa dựa trên đối thoại, thuyết phục và sự tham gia của chính cộng đồng. Việc tổ chức các diễn đàn, sinh hoạt dân cư có sự tham gia của người cao tuổi, trưởng thôn và các hộ tiên phong sẽ góp phần giảm tâm lý e ngại, tăng tính đồng thuận xã hội. Song song với đó, cần khai thác và chuyển hóa các nghề truyền thống như: đánh bắt hải sản, làm nước mắm, đan lưới, nấu ăn..., thành sản phẩm du lịch trải nghiệm đặc trưng. Chính quyền nên phối hợp với các tổ chức và trường đại học để chuẩn hóa sản phẩm văn hóa - du lịch, giúp tăng giá trị thương mại. Đặc biệt, cần khuyến khích thế hệ trẻ quay về đảo khởi nghiệp du lịch, đóng vai trò cầu nối giữa đổi mới và bảo tồn văn hóa địa phương.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior,.Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Đặng Thành Thức, Nguyễn Thị Minh Hiền, Quyền Đình Hà và Bùi Trọng Tiến Bảo (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch làng nghề tại tỉnh Bình Định. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 16, 238-246.

3. DFID (1999). Sustainable Livelihoods Guidance Sheets. London: Department for International Development.

4. Hung, N.P., Linh, D.T.T. (2025). Residents’ support for tourism development: influences of the theory of planned behavior and local online community engagement. https://doi.org/10.1007/s11135-025-02300.

5. Huo, T., Yuan, F., Huo, M., and Shao, Y. (2023). Residents' participation in rural tourism and interpersonal trust in tourists: The mediating role of residents’ perceptions of tourism impacts. Journal of Hospitality and Tourism Management, 54(1), 457-471. DOI: 10.1016/j.jhtm.2023.02.011.

6. Huo, X., Zou, X., Zhang, Y., and Ma, R. (2025). Driving factors of pro-environmental behavior among rural tourism destination residents-considering the moderating effect of environmental policies. Scientific Reports. 15(1), 7663.

7. Lê Chí Công và Đoàn Nguyễn Khánh Trân (2023). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng ý định hành vi của cộng đồng địa phương tham gia chương trình phát triển bền vững du lịch biển tại Duyên hải miền Trung Bộ. Tạp chí Kinh tế Đối ngoại, 113.

8. Nguyễn Quảng Nam (2024). Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến sinh kế của hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Luận án tiến sĩ, Hà Nội.

9. Rana, S.U.S., Abid, A., Aslam, W. and Noor, R.S. (2021). Predicting behavioral intention of rural inhabitants toward economic incentive for deforestation in Gilgit-Baltistan, Pakistan. Sustainability, 13(2), 617.

10. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa (2024). Báo cáo kết quả hoạt động du lịch năm 2024.

11. Zhang, T., Li, J., and Wang, Y. (2023). .Effects of livelihood capital on the farmers’ behavioral intention of rural residential land development right transfer: Evidence from Wujin District, Changzhou City, China. Land, 12(6), 1207.

Ngày nhận bài: 29/9/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/11/2025; Ngày duyệt đăng: 25/11/2025

Các tin khác

Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic

Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic

Thị trường xe điện Việt Nam đang chứng kiến sự hiện diện đồng thời của các thương hiệu nội địa cùng với các hãng xe quốc tế, tạo nên một môi trường cạnh tranh đặc thù.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh

Thị trường căn hộ tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2020-2025 gặp nhiều khó khăn. Theo HOREA (2022), khoảng 80% dự án chung cư tạm ngưng thi công do không bán được hàng.
Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh

Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh bất động sản, một hàng hóa có giá trị lớn, tính không đồng nhất cao, rủi ro pháp lý, tài chính đáng kể, bất cân xứng thông tin dễ dẫn tới lựa chọn bất lợi và gia tăng chi phí phòng vệ của người mua.
Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách

Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An giai đoạn 2020-2025 để đề xuất các giải pháp thúc đẩy sản xuất liên kết, gắn với thị trường và phát triển bền vững.
Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số tài chính diễn ra mạnh mẽ, tài sản mã hóa đã trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng trong hành vi tài chính của người dân Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Bài viết xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, qua đó đóng góp cơ sở lý luận và định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ

Phát triển kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững

Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững

Tích hợp ESG vào hoạt động doanh nghiệp giúp chuyển hóa cam kết phát triển bền vững thành giá trị tài sản dài hạn, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội

Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội

Trong bối cảnh giáo dục đại học ngày càng mở rộng, các trường đại học phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc thu hút và duy trì người học. Sự đa dạng về ngành đào tạo, phương thức tuyển sinh và chính sách hỗ trợ tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng khiến học sinh gặp khó khăn khi lựa chọn cơ sở đào tạo phù hợp
Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế

Tác động của eTax Mobile đến phương thức thực hiện nghĩa vụ thuế

eTax Mobile thúc đẩy số hóa nghĩa vụ thuế, giúp người nộp thuế thực hiện thủ tục thuận tiện, nhanh chóng, minh bạch và giảm chi phí tuân thủ.