Kế toán carbon trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam: Nghiên cứu đa trường hợp từ góc nhìn lý thuyết thể chế

Nghiên cứu - Trao đổi 15:24 | 20/01/2026
Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 36 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với lãnh đạo và nhân viên của 18 doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa thuộc 5 ngành khác nhau, kết hợp với quan sát thực địa và phân tích tài liệu thứ cấp. Từ kết quả đạt được, nghiên cứu đề xuất hàm ý có ý nghĩa quan trọng cho việc xây dựng lộ trình chính sách phù hợp để vượt qua rào cản, hỗ trợ hoạt động kế toán carbon hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam

TS. Trần Hồng Vân

Trường Đại học Tài chính – Marketing; Email: [email protected]

Tóm tắt

Từ góc nhìn lý thuyết thể chế, nghiên cứu thực hiện khám phá nhận thức và thực hành kế toán carbon trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam, đồng thời phân tích cách các doanh nghiệp phản ứng với các áp lực thể chế khác nhau. Áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính với chiến lược đa trường hợp, nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 36 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với lãnh đạo và nhân viên của 18 doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa thuộc 5 ngành khác nhau, kết hợp với quan sát thực địa và phân tích tài liệu thứ cấp. Từ kết quả đạt được, nghiên cứu đề xuất hàm ý có ý nghĩa quan trọng cho việc xây dựng lộ trình chính sách phù hợp, thiết lập hệ thống hỗ trợ toàn diện và khuyến khích mô hình hợp tác giữa các doanh nghiệp để vượt qua rào cản hỗ trợ hoạt động kế toán carbon hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa tại Việt Nam.

Từ khóa: Kế toán carbon, SMEs, lý thuyết thể chế, phát thải khí nhà kính

Summary

From an institutional theory perspective, this study explores perceptions and practices of carbon accounting in small and medium-sized manufacturing enterprises (SMEs) in Viet Nam, while examining how firms respond to different types of institutional pressures. Adopting a qualitative research approach with a multiple-case study strategy, the study collects data from 36 semi-structured interviews with managers and employees from 18 manufacturing SMEs across five different industries, supplemented by field observations and secondary document analysis. Based on the findings, the study offers important implications for the development of appropriate policy roadmaps, the establishment of comprehensive support systems, and the promotion of collaborative models among enterprises to overcome existing barriers and facilitate the effective implementation of carbon accounting practices in Vietnamese manufacturing SMEs.

Keywords: Carbon Accounting, SMEs, Institutional Theory, Greenhouse Gas Emissions

GIỚI THIỆU

Biến đổi khí hậu đã trở thành thách thức toàn cầu, đòi hỏi sự chuyển đổi căn bản trong cách thức các doanh nghiệp đo lường và quản lý tác động môi trường. Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu năm 2021, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (Chính phủ, 2021), đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chính sách môi trường quốc gia. Cam kết này không chỉ tạo áp lực pháp lý mà còn định hình lại bối cảnh kinh doanh cho toàn bộ nền kinh tế.

Đồng thời, sự ra đời của Cơ chế điều chỉnh carbon xuyên biên giới của Liên minh châu Âu đã tạo ra áp lực đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam (European Commission, 2023). Từ tháng 10/2023, các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường châu Âu phải báo cáo lượng phát thải carbon trong sản phẩm và từ năm 2026 sẽ phải trả thuế carbon nếu không đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải (Phương và cộng sự, 2024). Điều này đặt ra thách thức đặc biệt lớn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - chiếm 97% tổng số doanh nghiệp và đóng góp khoảng 40% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam (Cục Thống kê, 2023).

Mặc dù tầm quan trọng của kế toán carbon ngày càng được công nhận, các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp lớn với nguồn lực dồi dào (Phan, 2024). Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa (DNNVV) với những đặc thù về hạn chế nguồn lực, thiếu kiến thức chuyên môn và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong bối cảnh Việt Nam (Huy, 2024). Hơn nữa, các nghiên cứu trước đây chủ yếu áp dụng các mô hình từ các nước phát triển mà chưa xem xét đầy đủ đặc điểm thể chế độc đáo của Việt Nam, nơi vai trò của nhà nước, mạng lưới quan hệ xã hội và văn hóa kinh doanh có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi của doanh nghiệp (Công & Đăng, 2022).

Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống kiến thức bằng cách khám phá nhận thức và thực hành kế toán carbon trong các DNNVV tại Việt Nam thông qua góc nhìn của lý thuyết thể chế. Theo đó, 3 câu hỏi nghiên cứu được đặt ra: Thứ nhất, các DNNVV tại Việt Nam nhận thức như thế nào về kế toán carbon? Thứ hai, các yếu tố thể chế nào ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán carbon trong nhóm doanh nghiệp này? Thứ ba, các DNNVV đối phó với áp lực thể chế về kế toán carbon như thế nào?

Trả lời được các câu hỏi nghiên cứu trên sẽ cung cấp những bằng chứng thực tiễn sâu sắc về cách các DNNVV Việt Nam đối diện với yêu cầu kế toán carbon. Từ đó, nghiên cứu không chỉ đưa ra các hàm ý quan trọng cho việc xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mà còn đóng góp vào việc phát triển lý thuyết thể chế trong bối cảnh một nền kinh tế đang chuyển đổi.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Kế toán carbon và doanh nghiệp nhỏ và vừa

Kế toán carbon là quá trình đo lường, giám sát và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính từ hoạt động của tổ chức, cho phép doanh nghiệp định lượng tác động môi trường và xác định cơ hội giảm thiểu phát thải (Schaltegger & Csutora, 2012). Theo Nghị định thư về khí nhà kính, kế toán carbon được phân loại thành 3 phạm vi: (i). Phát thải trực tiếp từ các nguồn thuộc sở hữu hoặc kiểm soát của doanh nghiệp; (ii). Phát thải gián tiếp từ việc tiêu thụ điện năng; (iii). Các phát thải gián tiếp khác trong chuỗi giá trị (WRI/WBCSD, 2004).

Đối với DNNVV, Lee (2012) chỉ ra 3 rào cản chính là hạn chế về nguồn lực tài chính cho đầu tư công nghệ đo lường, thiếu nhân lực có kiến thức chuyên môn về quản lý môi trường và khả năng tiếp cận thông tin còn hạn chế. Khan và cộng sự (2025), cho thấy nhiều nước đang phát triển đều khẳng định, mặc dù DNNVV đóng góp đáng kể vào tổng lượng phát thải, nhưng tỷ lệ áp dụng kế toán carbon vẫn thấp do thiếu hỗ trợ thể chế phù hợp.

Lý thuyết thể chế

DiMaggio & Powell (1983) phát triển khái niệm đồng hình thể chế thông qua 3 cơ chế áp lực, gồm: Áp lực cưỡng chế phát sinh từ các quy định pháp luật bắt buộc và yêu cầu từ các bên có quyền lực như khách hàng lớn hay nhà đầu tư; Áp lực chuẩn mực xuất phát từ quá trình chuyên nghiệp hóa, thông qua đào tạo chính quy, hiệp hội ngành nghề và các chuẩn mực nghề nghiệp; Áp lực bắt chước xảy ra khi tổ chức mô phỏng các thực hành của tổ chức khác được coi là thành công hoặc hợp pháp trong điều kiện không chắc chắn.

Oliver (1991) mở rộng lý thuyết bằng cách xác định 5 chiến lược phản ứng của tổ chức với áp lực thể chế, từ tuân thủ hoàn toàn đến chống đối, cụ thể: Đồng thuận khi tổ chức chủ động tuân thủ; thỏa hiệp khi cân bằng giữa yêu cầu thể chế và mục tiêu nội tại; né tránh thông qua che giấu hoặc thoát ly; thách thức khi công khai phản đối; và thao túng nhằm thay đổi chính áp lực thể chế. Delmas & Toffel (2008) áp dụng khung này vào lĩnh vực môi trường và cho thấy doanh nghiệp lựa chọn chiến lược phản ứng dựa trên đánh giá chi phí-lợi ích và khả năng nội tại.

Scott (2013) xác định 3 trụ cột của thể chế tạo nên khung thể chế định hình hành vi của tổ chức, cụ thể: Trụ cột quy định dựa trên luật pháp và chế tài; Trụ cột chuẩn mực liên quan đến các giá trị và kỳ vọng nghề nghiệp; và Trụ cột văn hóa-nhận thức phản ánh niềm tin và cách hiểu chung được chia sẻ.

BỐI CẢNH THỂ CHẾ VIỆT NAM

Khung pháp lý về biến đổi khí hậu tại Việt Nam đang dần hoàn thiện với Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các nghị định hướng dẫn tạo nền tảng cho quản lý phát thải. Tuy nhiên, các quy định hiện tại chủ yếu áp dụng cho doanh nghiệp lớn, trong khi chưa có yêu cầu bắt buộc cụ thể cho DNNVV về báo cáo carbon (Võ & Lê, 2024).

Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam thể hiện qua các chính sách khuyến khích và hỗ trợ hơn là cưỡng chế. Đồng & Thơm (2025) nhấn mạnh đặc điểm quan hệ nhà nước-doanh nghiệp tại Việt Nam mang tính phối hợp phát triển, trong đó nhà nước vừa quản lý vừa hỗ trợ. Văn hóa kinh doanh Việt Nam với mạng lưới quan hệ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin và thực hành quản lý (Hung, 2023). Quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt thông qua các hiệp định thương mại tự do, đang tạo áp lực mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định tính với tiếp cận diễn giải nhằm khám phá sâu nhận thức và thực hành kế toán carbon của DNNVV trong bối cảnh thể chế Việt Nam. Chiến lược nghiên cứu đa trường hợp được lựa chọn vì cho phép so sánh và đối chiếu giữa các đơn vị phân tích khác nhau, từ đó tăng cường độ tin cậy của kết quả. Thiết kế này cho phép thu thập dữ liệu phong phú về cách các doanh nghiệp phản ứng với áp lực thể chế trong điều kiện thực tế.

Lựa chọn mẫu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có mục đích với 4 tiêu chí chính. Thứ nhất, doanh nghiệp phải thuộc nhóm sản xuất nhỏ và vừa với quy mô từ 10 đến 200 lao động theo quy định của Nghị định 80/2021/NĐ-CP. Thứ hai, mẫu đảm bảo tính đa dạng ngành nghề gồm 4 doanh nghiệp dệt may, 4 doanh nghiệp thực phẩm, 3 doanh nghiệp điện tử, 3 doanh nghiệp nhựa và 4 doanh nghiệp chế biến gỗ. Thứ ba, trong 18 doanh nghiệp được chọn, 11 doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu chiếm trên 30% doanh thu và 7 doanh nghiệp chỉ phục vụ thị trường nội địa, giúp so sánh tác động của áp lực quốc tế. Thứ tư, mẫu phân bố đều theo vùng địa lý với 6 doanh nghiệp tại miền Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng), 6 doanh nghiệp tại miền Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai) và 6 doanh nghiệp tại miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam). Tổng doanh thu năm 2023 của các doanh nghiệp dao động từ 15 tỷ đến 450 tỷ đồng.

Thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ tháng 3/2024 đến tháng 8/2024 thông qua 3 nguồn chính. Phỏng vấn bán cấu trúc là nguồn dữ liệu chủ yếu với 36 cuộc phỏng vấn được thực hiện, mỗi doanh nghiệp có 2 người tham gia gồm giám đốc điều hành hoặc phó giám đốc, kế toán trưởng hoặc trưởng phòng sản xuất. Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 60 đến 90 phút, được ghi âm với sự đồng ý của người tham gia và gỡ băng thành 168 trang văn bản. Dữ liệu thứ cấp bao gồm 18 báo cáo thường niên năm 2023, 72 báo cáo quản lý nội bộ liên quan đến tiêu thụ năng lượng và nguyên vật liệu, cùng nội dung từ website doanh nghiệp. Quan sát trực tiếp được thực hiện tại 12 doanh nghiệp đồng ý cho tham quan nhà xưởng, tập trung vào quy trình sản xuất, hệ thống quản lý năng lượng và thực hành xử lý chất thải, tạo ra 38 trang ghi chép thực địa.

Phân tích dữ liệu

Quy trình phân tích chủ đề 6 bước được áp dụng nghiêm ngặt. Giai đoạn làm quen dữ liệu bao gồm đọc lại toàn bộ bản thảo và ghi chú ban đầu. Mã hóa sơ cấp tạo ra 127 mã ban đầu được nhóm thành 28 mã tổng hợp. Quá trình tìm kiếm chủ đề xác định 8 chủ đề tiềm năng, sau khi xem xét và tinh chỉnh còn 5 chủ đề chính phù hợp với câu hỏi nghiên cứu. Phần mềm NVivo 14 hỗ trợ quản lý và phân tích 312 đoạn trích dẫn quan trọng. Độ tin cậy được đảm bảo qua việc gửi tóm tắt kết quả cho 15 người tham gia để xác nhận, đạt tỷ lệ đồng thuận 92%.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Nhận thức về kế toán carbon

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về kế toán carbon trong các DNNVV tại Việt Nam còn hạn chế. Chỉ có 5/18 doanh nghiệp được khảo sát (tương đương 28%) hiểu đúng và đầy đủ khái niệm dấu chân carbon cũng như phạm vi đo lường phát thải khí nhà kính. Phần lớn người được phỏng vấn nhầm lẫn giữa kế toán carbon với các hoạt động quản lý môi trường thông thường.

Điểm đáng chú ý là nhận thức về kế toán carbon có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm doanh nghiệp xuất khẩu và nội địa. Trong 11 doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, 7 doanh nghiệp (khoảng 64%) nhận thức được tầm quan trọng của việc đo lường phát thải carbon, chủ yếu do áp lực từ khách hàng quốc tế. Kế toán trưởng một công ty dệt may xuất khẩu sang châu Âu tại Bắc Ninh cho biết: "Từ đầu năm 2024, khách hàng Đức yêu cầu chúng tôi cung cấp thông tin về lượng điện năng tiêu thụ cho mỗi đơn hàng. Họ gọi đó là dữ liệu carbon, nếu không có sẽ khó ký hợp đồng mới". Ngược lại, chỉ 1/7 doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa (tương đương 14%) quan tâm đến vấn đề này, cho thấy vai trò then chốt của chuỗi cung ứng toàn cầu trong việc thúc đẩy nhận thức về kế toán carbon.

Ba rào cản chính hạn chế nhận thức về kế toán carbon được xác định: Thứ nhất, có đến 83% người được phỏng vấn cho biết khó tiếp cận tài liệu hướng dẫn bằng tiếng Việt về kế toán carbon phù hợp với quy mô doanh nghiệp nhỏ. Thứ hai, không có chương trình đào tạo chính thức từ cơ quan nhà nước hay hiệp hội ngành về chủ đề này. Thứ ba, khoảng 72% lãnh đạo doanh nghiệp coi kế toán carbon là "xa xỉ" và "không cần thiết" cho doanh nghiệp quy mô nhỏ, phản ánh quan điểm cho rằng đây là trách nhiệm của các tập đoàn lớn.

Áp lực thể chế và phản ứng của doanh nghiệp

Nghiên cứu xác định 4 loại áp lực thể chế tác động đến việc áp dụng kế toán carbon trong các DNNVV, với mức độ và phản ứng khác nhau.

Thứ nhất, áp lực cưỡng chế từ quy định pháp luật trong nước được đánh giá là yếu nhất. Hiện tại, các văn bản pháp luật (cụ thể là Quyết định 01/2022/QĐ-TTg) về báo cáo phát thải chỉ áp dụng cho gần 2.000 cơ sở sản xuất lớn với mức tiêu thụ năng lượng trên 3.000 tấn dầu tương đương mỗi năm. Không có doanh nghiệp nào trong mẫu nghiên cứu thuộc diện này. Kết quả cho thấy 14/18 doanh nghiệp (chiếm khoảng 78%) áp dụng chiến lược né tránh, không thực hiện bất kỳ hoạt động kế toán carbon nào. Sự vắng mặt của chế tài và cơ chế giám sát khiến áp lực cưỡng chế không phát huy tác dụng với nhóm doanh nghiệp này.

Thứ hai, áp lực chuẩn mực từ các tổ chức nghề nghiệp đang dần hình thành nhưng chưa đủ mạnh. Mặc dù 5 hiệp hội ngành được khảo sát đều có kế hoạch xây dựng hướng dẫn về quản lý carbon, nhưng đến thời điểm nghiên cứu chưa có tài liệu cụ thể nào được ban hành. Phó chủ tịch một hiệp hội dệt may thừa nhận: "Chúng tôi cũng đang học hỏi, chưa đủ năng lực để hướng dẫn chi tiết cho hội viên". Trong bối cảnh này, 4 doanh nghiệp (khoảng 22%) lựa chọn chiến lược thỏa hiệp bằng cách thuê tư vấn lập báo cáo hình thức khi có yêu cầu, nhưng không tích hợp kế toán carbon vào quy trình quản lý thường xuyên.

Thứ ba, áp lực bắt chước thể hiện rõ trong các cụm công nghiệp có sự hiện diện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tại khu công nghiệp Vsip Bình Dương, 3 doanh nghiệp trong mẫu cho biết đã quan sát và học hỏi cách các công ty Nhật Bản lân cận theo dõi tiêu thụ điện năng. Tuy nhiên, việc bắt chước mang tính chọn lọc cao, chỉ áp dụng những biện pháp đơn giản như lắp đồng hồ điện riêng cho từng phân xưởng, bỏ qua các yếu tố phức tạp như tính toán phát thải từ vận chuyển hay xử lý chất thải.

Thứ tư, áp lực từ chuỗi cung ứng toàn cầu là động lực mạnh nhất, đặc biệt với 11 doanh nghiệp xuất khẩu. Một doanh nghiệp dệt may tại Hà Nội xuất khẩu 65% sản phẩm sang Đức phải đáp ứng yêu cầu cung cấp dữ liệu carbon từ quý 2/2024. Ban đầu doanh nghiệp né tránh bằng cách trì hoãn, nhưng khi đối tác đề nghị hủy đơn hàng, buộc phải thuê công ty tư vấn quốc tế với chi phí 180 triệu đồng để thiết lập hệ thống đo lường cơ bản. Tuy nhiên, việc tuân thủ chỉ ở mức tối thiểu - đo lường phạm vi 1 và 2, bỏ qua phạm vi 3 phức tạp hơn.

Thực hành kế toán carbon hiện tại

Chỉ 6/18 doanh nghiệp (chiếm 33%) thực hiện một số hình thức theo dõi phát thải, chủ yếu tập trung vào điện năng tiêu thụ thuộc phạm vi 2. Việc sử dụng một hệ số phát thải không rõ nguồn gốc và không được kiểm chứng cho lưới điện Việt Nam cho thấy thực hành kế toán carbon còn mang tính đối phó, thiếu tính khoa học và độ tin cậy. Không doanh nghiệp nào có quy trình chuẩn hóa hay hướng dẫn nội bộ về đo lường phát thải.

Bốn rào cản chính cản trở việc triển khai kế toán carbon được xác định: Thứ nhất, chi phí đầu tư công nghệ đo lường được 89% doanh nghiệp đánh giá là quá cao. Thứ hai, thiếu nhân lực chuyên môn là vấn đề phổ biến. Trưởng phòng sản xuất một doanh nghiệp điện tử thừa nhận: "Nhân viên của tôi giỏi vận hành máy móc nhưng không ai hiểu về tính toán phát thải khí nhà kính. Gửi đi đào tạo thì tốn kém, học xong lại nhảy việc thì phí". Thứ ba, 72% lãnh đạo doanh nghiệp không nhận thấy lợi ích kinh tế trực tiếp. Thứ tư, lo ngại về việc công khai thông tin được 5 doanh nghiệp nêu ra. Một giám đốc doanh nghiệp dệt may lo lắng: "Nếu công bố phát thải cao, đối thủ sẽ lợi dụng để cạnh tranh không lành mạnh".

Trước những rào cản này, một số doanh nghiệp đã phát triển chiến lược đối phó sáng tạo. Ba doanh nghiệp trong cùng khu công nghiệp tại Bình Dương (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh) hợp tác thuê chung một chuyên gia tư vấn, chia sẻ chi phí 60 triệu đồng mỗi doanh nghiệp thay vì 150 triệu nếu thuê riêng. Kế toán trưởng một trong ba doanh nghiệp này giải thích: "Chúng tôi không phải đối thủ trực tiếp nên có thể hợp tác. Chuyên gia đến đào tạo chung, giúp tiết kiệm đáng kể". Hai doanh nghiệp dệt may tận dụng hỗ trợ từ chương trình hợp tác phát triển của Đức với tổng kinh phí 450 triệu đồng. Năm doanh nghiệp khác chọn giải pháp thuê ngoài dịch vụ tư vấn theo nhu cầu, chỉ khi khách hàng yêu cầu cụ thể.

So với các nghiên cứu quốc tế, tình hình tại Việt Nam có điểm tương đồng và khác biệt. Giống như doanh nghiệp nhỏ ở Anh hay Úc, rào cản nguồn lực là yếu tố chung. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở động lực thực hiện. Trong khi doanh nghiệp phương Tây thường có động lực nội sinh từ nhận thức về trách nhiệm môi trường, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu bị thúc đẩy bởi áp lực bên ngoài. Giám đốc một doanh nghiệp chế biến gỗ nhận xét: "Nếu khách hàng không yêu cầu, chúng tôi sẽ không bao giờ nghĩ đến việc tính toán carbon". Đặc biệt, vai trò của mạng lưới quan hệ trong việc chia sẻ thông tin và nguồn lực là yếu tố độc đáo trong bối cảnh Việt Nam, tạo điều kiện cho các giải pháp hợp tác mà ít thấy trong các nghiên cứu phương Tây.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Kết luận

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ thực trạng nhận thức và thực hành kế toán carbon trong các DNNVV tại Việt Nam thông qua góc nhìn của lý thuyết thể chế. Ba phát hiện quan trọng được rút ra từ nghiên cứu. Một là, nhận thức về kế toán carbon của DNNVV còn phân mảnh và bị chi phối mạnh bởi áp lực từ chuỗi cung ứng toàn cầu hơn là động lực nội tại. Hai là, áp lực thể chế tác động không đồng đều, trong đó áp lực từ khách hàng quốc tế mạnh nhất, còn áp lực từ quy định trong nước và hiệp hội ngành còn yếu. Ba là, thực hành kế toán carbon hiện tại chủ yếu ở mức độ hình thức, tập trung vào đáp ứng yêu cầu tối thiểu thay vì tích hợp toàn diện vào quản lý doanh nghiệp.

Về mặt lý thuyết, nghiên cứu mở rộng lý thuyết thể chế bằng cách chỉ ra rằng trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, các DNNVV phản ứng với áp lực thể chế theo cách thực dụng và có chọn lọc cao, khác với mô hình tuân thủ tuyến tính trong các nền kinh tế phát triển.

Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về khoảng cách giữa yêu cầu quản lý phát thải hiện đại và năng lực thực tế của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp.

Hàm ý chính sách

Để thúc đẩy kế toán carbon trong DNNVV, cần có lộ trình rõ ràng với 3 giai đoạn: khuyến khích tự nguyện trong 2 năm đầu, yêu cầu báo cáo đơn giản cho doanh nghiệp xuất khẩu từ năm thứ 3 và bắt buộc toàn diện từ năm thứ 5.

Chính phủ nên thiết lập các động lực tài chính cụ thể như giảm 10% thuế thu nhập doanh nghiệp cho những đơn vị có báo cáo carbon được kiểm chứng, lãi suất ưu đãi cho vay đầu tư công nghệ xanh và hỗ trợ 50% chi phí tư vấn lần đầu. Các hiệp hội ngành cần được trao quyền và nguồn lực để phát triển hướng dẫn cụ thể cho từng ngành, tổ chức diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm và làm cầu nối giữa doanh nghiệp với chuyên gia quốc tế.

Hàm ý quản trị

Các DNNVV cần chuyển từ thái độ thụ động sang chủ động trong việc xây dựng năng lực kế toán carbon. Điều này bao gồm việc cử nhân viên tham gia đào tạo, phân công trách nhiệm cụ thể, và dành ngân sách hàng năm cho hoạt động này. Mô hình hợp tác giữa các doanh nghiệp trong cùng khu công nghiệp để chia sẻ chi phí tư vấn và kinh nghiệm nên được nhân rộng. Quan trọng nhất, kế toán carbon cần được tích hợp vào chiến lược kinh doanh dài hạn như một yếu tố cạnh tranh, không chỉ là yêu cầu tuân thủ. Doanh nghiệp nên xem đây là cơ hội để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và xây dựng hình ảnh thương hiệu bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1.Chính phủ (2021). Cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26. https://www.chinhphu.vn/cam-ket-cua-viet-nam-tai-hoi-nghi-cop26.

2. Công, D. D., & Đăng, M. V. (2022). Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến hành vi tiêu dùng xanh: Ứng dụng và mở rộng lý thuyết hành vi có kế hoạch, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 302(2), 121-132.

3. Delmas, M. A., & Toffel, M. W. (2008). Organizational responses to environmental demands: Opening the black box, Strategic Management Journal, 29(10), 1027-1055.

4. DiMaggio, P. J., & Powell, W. W. (1983). The iron cage revisited: Institutional isomorphism and collective rationality in organizational fields, American Sociological Review, 48(2), 147-160.

5. Đồng, N. T., & Thơm, P. T. (2025). Vai trò của doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội, (108), 108.

6. European Commission. (2023). Carbon Border Adjustment Mechanism. https://taxation-customs.ec.europa.eu/carbon-border-adjustment-mechanism_en.

7. Hung, P. H. (2023). The influence of cultural, legal and institutional factors on auditors' roles, responsibilities and perceptions of audit quality, European Journal of Theoretical and Applied Sciences, 1(5), 1131-1145.

8. Huy, H. P. (2024). The role of sustainability accounting in improving environmental performance in Vietnam's manufacturing industry, Journal of Economics, Bussiness and Management Issues, 2(1), 1-12.

9. Khan, M., Majid, A., & Ahmed, A. (2025). Circular economy practices in manufacturing SMEs: A perspective of environmental management in developing countries, Sustainable Futures, 9, 100418.

10. Lee, K. H. (2012). Carbon accounting for supply chain management in the automobile industry, Journal of Cleaner Production, 36, 83-93.

11. Oliver, C. (1991). Strategic responses to institutional processes, Academy of Management Review, 16(1), 145-179.

12. Phan, T. T. T. (2024). Responsible business practices and legal and practical issues in corporate governance and investment in Vietnam, VNU Journal of Science: Legal Studies, 40(2).

13. Phương, T. N. T., Quang, V. P., Hồng, Q. Đ., & Lan, A. N. T. (2024). Giải pháp xanh hoá xuất khẩu thép Việt Nam: Thích ứng trước tác động của Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon của Liên minh Châu Âu, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 326(2), 115-123.

14. Scott, W. R. (2013). Institutions and organizations: Ideas, interests, and identities. Sage publications.

16. WRI/WBCSD (2004). The greenhouse gas protocol. A corporate accounting and reporting standard, Rev. ed. Washington, DC, Conches-Geneva.

17. Võ, T. T., & Lê, D. K. (2024). Khung pháp lý về thị trường các-bon việt nam–thực trạng và một số khuyến nghị hoàn thiện, Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam, (07), 68-79.

Ngày nhận bài: 08/12/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/01/2026; Ngày duyệt đăng: 20/01/2026

Các tin khác

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

Thực tế đã chứng minh rằng phát triển chuỗi liên kết đã tạo ra các khu sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, vùng nguyên liệu lớn, đồng thời là cơ sở quan trọng để đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo quy trình công nghệ, tiêu chuẩn hóa các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, tạo ra khối lượng hàng hóa chủ lực đủ lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường, khắc phục được những nhược điểm của mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển

Bán lẻ đang chuyển từ cung ứng hàng hóa tại điểm bán sang quản trị toàn bộ hành trình khách hàng. Thương mại điện tử, thanh toán số, ứng dụng di động và bán hàng đa kênh làm thay đổi cách cung ứng và đánh giá dịch vụ. Khách hàng có thể tìm kiếm thông tin trực tuyến, kiểm tra sản phẩm tại cửa hàng, đặt hàng online và sử dụng quyền lợi thành viên trên nhiều kênh. Vì vậy, chất lượng dịch vụ ngày càng được hình thành từ nhiều điểm tiếp xúc.
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh

Dịch vụ giao thức ăn trực tuyến cho phép khách hàng đặt món qua ứng dụng hoặc website và nhận món tại địa điểm yêu cầu.
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng

Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là một trong những vấn đề trọng tâm của quản trị y tế, bởi chất lượng không chỉ được phản ánh qua kết quả chuyên môn, mà còn được hình thành từ toàn bộ trải nghiệm của người bệnh trong quá trình tiếp cận và sử dụng dịch vụ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội

Khi thị trường ứng dụng di động bước vào giai đoạn cạnh tranh cao hơn, vấn đề quản trị không chỉ là thu hút lượt tải hoặc giao dịch đầu tiên mà còn là duy trì người dùng sau trải nghiệm.
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch

Ngành du lịch đang chịu tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững, khiến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công việc trở thành yêu cầu quan trọng. Lãnh đạo chuyển đổi có thể thúc đẩy hiệu quả công việc thông qua truyền cảm hứng, hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, song cơ chế tác động vẫn chưa được giải thích đầy đủ.
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên

Trong bối cảnh kinh tế số, thương mại điện tử không còn là một xu hướng bổ trợ mà đã trở thành một phần cốt lõi của hệ sinh thái tiêu dùng hiện đại. Nhóm người tiêu dùng từ 18-24 tuổi, phần lớn là sinh viên, đang chiếm tỷ lệ giao dịch trực tuyến cao nhất.
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long

Nghiên cứu này kết hợp phân tích thư mục và tổng quan hệ thống nhằm hệ thống hóa bằng chứng, nhận diện khoảng trống và đề xuất khung tích hợp cùng hướng nghiên cứu cho logistics Việt Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long.
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)

Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng xanh, du lịch trải nghiệm và kinh tế tuần hoàn ngày càng phát triển, việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch đang trở thành hướng đi được nhiều địa phương lựa chọn nhằm gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác.
Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Giải pháp xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 tỉnh Hà Tĩnh gắn với thực hiện quy hoạch tỉnh

Quy hoạch xác định cấu trúc không gian và các mục tiêu phát triển. Kế hoạch đầu tư xác định những công trình có thể thực hiện trong giới hạn ngân sách. Khoảng cách giữa 2 công cụ xuất hiện khi danh mục đề xuất vượt khả năng cân đối vốn hoặc dự án chưa đủ điều kiện triển khai.