Chuyển đổi số trong hải quan và tác động đến hiệu quả thông quan tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam
ThS. Nguyễn Đức Khoa
Hải quan khu vực VI
Email: ndkhoahqls@gmail.com
Tóm tắt
Trong bối cảnh thương mại biên giới Việt Nam - Trung Quốc tăng trưởng mạnh, chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan đang trở thành giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả thông quan và phát triển logistics xuyên biên giới. Bài viết phân tích thực trạng triển khai cửa khẩu số và cửa khẩu thông minh tại Lạng Sơn, Quảng Ninh và Lào Cai; đồng thời đánh giá tác động của quá trình này đối với tốc độ xử lý thủ tục, chi phí logistics và hiệu quả quản lý nhà nước. Kết quả cho thấy, ứng dụng nền tảng số và dữ liệu liên thông đã góp phần nâng cao năng lực thông quan, tối ưu hóa vận tải và tăng cường kết nối thương mại biên giới. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng số, kết nối dữ liệu và khuôn khổ pháp lý. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển hải quan số và cửa khẩu thông minh tại Việt Nam giai đoạn 2026-2030.
Từ khóa: Chuyển đổi số hải quan, thông quan biên giới, tạo thuận lợi thương mại.
Abstract
Amid the rapid growth of Vietnam - China border trade, digital transformation in customs has become an important solution for improving customs clearance efficiency and developing cross-border logistics. This article analyzes the current implementation of digital border-gate platforms and smart border gates in Lang Son, Quang Ninh, and Lao Cai, while assessing the impacts of this process on procedure-processing speed, logistics costs, and the effectiveness of state management. The findings show that the application of digital platforms and interoperable data has helped increase customs clearance capacity, optimize transport operations, and strengthen border trade connectivity. However, implementation still faces several challenges related to digital infrastructure, data connectivity, and the legal framework. On this basis, the article proposes recommendations to promote the development of digital customs and smart border gates in Vietnam during the 2026-2030 period.
Keywords: Customs digital transformation, border clearance, trade facilitation.
GIỚI THIỆU
Sự gia tăng mạnh mẽ của thương mại Việt Nam - Trung Quốc trong những năm gần đây đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về hiện đại hóa quản lý biên giới, nâng cao năng lực logistics và cải cách thủ tục hải quan tại các cửa khẩu phía Bắc. Tình trạng ùn tắc, chi phí logistics cao và thời gian thông quan kéo dài đang trở thành rào cản lớn đối với hiệu quả thương mại xuyên biên giới và năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này đòi hỏi các địa phương biên giới phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, từng bước chuyển đổi từ mô hình quản lý truyền thống sang “cửa khẩu số” và “cửa khẩu thông minh”.
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu thế phát triển kinh tế số, Đảng và Nhà nước xác định chuyển đổi số là động lực quan trọng nhằm hiện đại hóa quản trị quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định ưu tiên phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và các hệ thống quản lý thông minh trong lĩnh vực tài chính, thuế và hải quan (Bộ Chính trị, 2019). Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cũng đặt trọng tâm vào phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số (Thủ tướng Chính phủ, 2020).
Trên cơ sở đó, Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030 đặt mục tiêu xây dựng “Hải quan số, Hải quan thông minh”, đẩy mạnh hải quan điện tử và Cơ chế một cửa quốc gia nhằm rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí logistics và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động xuất nhập khẩu (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Bài viết tập trung phân tích thực trạng chuyển đổi số tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc, đánh giá tác động đối với hiệu quả thông quan và chi phí logistics, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển mô hình cửa khẩu thông minh trong giai đoạn tới.
THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI CÁC CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Mô hình chuyển đổi số toàn diện tại Lạng Sơn
Là địa phương tiên phong trong số hóa hoạt động cửa khẩu, Lạng Sơn đã xây dựng nền tảng cửa khẩu số tại Hữu Nghị và Tân Thanh từ tháng 7/2021 đến tháng 2/2022, tạo nên một quy trình quản lý tập trung trên môi trường số. Hệ thống cho phép doanh nghiệp khai báo trực tuyến trước khi hàng đến cửa khẩu, ứng dụng camera AI nhận diện biển số, kết nối bản đồ số, định vị và chia sẻ dữ liệu với hải quan, đăng kiểm cùng các lực lượng chức năng. Sau một năm vận hành, 100% doanh nghiệp thực hiện khai báo trực tuyến, hơn 238.000 phương tiện được xử lý trên nền tảng, góp phần rút ngắn thời gian, minh bạch hóa quy trình và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại cửa khẩu (Sở TT&TT Lạng Sơn, 2023).
Song song với số hóa quy trình, Lạng Sơn tích cực triển khai Đề án cửa khẩu thông minh. Các công trình nổi bật gồm đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa tại mốc 1119-1120 (khánh thành ngày 27/11/2025) và hạ tầng hiện đại tại cửa khẩu Tân Thanh với 8 làn xe, trong đó có 2 làn dành riêng cho cửa khẩu thông minh cùng bến bãi độc lập (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn, 2025; Ban Quản lý KKT cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn, 2025). Đặc biệt, từ tháng 12/2025 đến tháng 12/2026, Hải quan Tân Thanh thí điểm vận chuyển hàng hóa hai chiều qua các tuyến đường chuyên dụng biên giới tại các mốc 1119-1120 (Hữu Nghị), 1088/2-1089 (Tân Thanh) và 1104-1105 (Cốc Nam). Mô hình này giúp khắc phục tình trạng xe chạy rỗng chiều về, giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả khai thác phương tiện vận tải (VOV, 2026).
Mô hình cửa khẩu thông minh kiểu mẫu tại Quảng Ninh
Quảng Ninh là địa phương tiên phong trong triển khai mô hình cửa khẩu thông minh tại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc, với trọng tâm là cặp cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng. Ngày 26/01/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 164/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại khu vực này, hướng tới mục tiêu phát triển Móng Cái thành trung tâm logistics và cửa ngõ thương mại hiện đại kết nối ASEAN với thị trường Trung Quốc (Thủ tướng Chính phủ, 2026a).
Dự án chính thức được khởi động ngày 11/02/2026 với sự phối hợp của chính quyền hai nước. Để phục vụ quá trình xây dựng hạ tầng phía Đông Hưng, từ ngày 23/03/2026, luồng hành khách xuất nhập cảnh được điều chỉnh sang cầu Bắc Luân II nhằm tạo điều kiện triển khai hệ thống cửa khẩu thông minh tại cầu Bắc Luân I (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2026).
Mô hình cửa khẩu thông minh tại Móng Cái được xây dựng theo hướng khép kín, kết hợp giữa số hóa quản lý xuất nhập cảnh và tự động hóa logistics hàng hóa. Tại cầu Bắc Luân I, hệ thống kiểm soát được tích hợp công nghệ nhận diện sinh trắc học và cổng kiểm soát tự động nhằm rút ngắn thời gian làm thủ tục cho hành khách và cư dân biên giới (Thủ tướng Chính phủ, 2026a). Trong khi đó, cầu Bắc Luân II tập trung ứng dụng phương tiện tự hành AGV/IGV vận hành trên nền tảng mạng 5G để tổ chức vận chuyển hàng hóa liên tục 24/7, đánh dấu bước chuyển từ logistics truyền thống sang logistics tự động hóa xuyên biên giới.
Song song với đó, tỉnh Quảng Ninh triển khai xây dựng Trung tâm điều hành thông minh (IOC) nhằm giám sát tập trung hoạt động thông quan, lưu lượng phương tiện và tình trạng vận hành hạ tầng theo thời gian thực, qua đó nâng cao hiệu quả điều phối và giảm nguy cơ ùn tắc tại khu vực cửa khẩu. Theo lộ trình triển khai, giai đoạn 2026 tập trung xây dựng hạ tầng nền tảng và thí điểm đối với các nhóm hàng như nông sản, thủy sản đông lạnh và linh kiện điện tử. Giai đoạn 2027-2030 sẽ mở rộng phạm vi áp dụng, hiện đại hóa kho bãi, phát triển logistics số và tích hợp thương mại điện tử xuyên biên giới nhằm hoàn thiện mô hình cửa khẩu thông minh quy mô lớn tại khu vực Đông Bắc Việt Nam (Thủ tướng Chính phủ, 2026a).
Bên cạnh chuyển đổi số, Quảng Ninh cũng đẩy mạnh đầu tư hạ tầng logistics vật lý. Việc mở rộng danh mục hàng hóa thông quan qua cầu Bắc Luân II cùng với dự án Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh đã góp phần hình thành chuỗi logistics nông sản liên hoàn phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc. Qua đó, cửa khẩu Móng Cái từng bước khẳng định vai trò trung tâm logistics chiến lược và động lực phát triển kinh tế biên mậu của khu vực phía Bắc trong bối cảnh hội nhập kinh tế số ngày càng sâu rộng.
Mô hình tích hợp dữ liệu tại Lào Cai
Tại Lào Cai, việc triển khai nền tảng cửa khẩu số trong gần ba năm qua đã tạo ra bước chuyển biến quan trọng trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng tích hợp và đồng bộ dữ liệu. Điểm nổi bật của mô hình này là khả năng khắc phục tình trạng phân mảnh giữa các phần mềm quản lý trước đây, vốn khiến doanh nghiệp phải thực hiện nhiều lần kê khai trên các hệ thống độc lập khác nhau (Báo Lào Cai, 2025a). Thông qua nền tảng tích hợp, doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ cần thực hiện một lần khai báo điện tử trên hệ thống chung. Dữ liệu sau khi được nhập sẽ tự động đồng bộ, lưu trữ và chia sẻ giữa các cơ quan chức năng liên quan, đồng thời cho phép tái sử dụng thông tin đối với các tờ khai tiếp theo. Cơ chế này không chỉ giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính mà còn giảm đáng kể nguy cơ sai sót phát sinh từ thao tác kê khai thủ công của doanh nghiệp (Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai, 2025).
Quá trình chuyển đổi số tại Lào Cai tiếp tục được nâng lên một bước mới khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 453/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược thuộc Cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Thủ tướng Chính phủ, 2026b). Theo định hướng của đề án, hệ thống cửa khẩu thông minh sẽ được phát triển theo mô hình hệ sinh thái logistics số xuyên biên giới, bảo đảm khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực giữa các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng hải quan, doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Việc hình thành cơ chế quản trị dữ liệu tập trung không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành hoạt động thông quan mà còn tạo nền tảng để phát triển các dịch vụ logistics thông minh, tăng tính minh bạch trong quản lý chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh của hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập kinh tế số khu vực.
TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ ĐẾN HIỆU QUẢ THÔNG QUAN VÀ TỐI ƯU HÓA CHI PHÍ LOGISTICS
Tối ưu hóa thời gian xử lý thủ tục và năng lực vận tải
Việc chuyển đổi từ mô hình quản lý thủ tục truyền thống sang nền tảng số hóa tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc đã tạo ra những cải thiện rõ rệt về hiệu quả thông quan, năng lực vận tải và tối ưu hóa chi phí logistics. Thực tiễn triển khai cho thấy ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính mà còn nâng cao hiệu quả vận hành của chuỗi logistics xuyên biên giới.
Tại Lào Cai, từ tháng 8/2023, nền tảng cửa khẩu số được triển khai với hệ thống dữ liệu liên ngành; đồng thời hạ tầng bãi đỗ, cổng kiểm soát và trung tâm tiếp nhận thủ tục hành chính cũng được đầu tư, nâng cấp đồng bộ. Điểm đáng chú ý là Ban Quản lý Khu kinh tế Lào Cai đã phối hợp với cơ quan Hải quan tích hợp nền tảng cửa khẩu số với hệ thống quản lý phương tiện xuất nhập cảnh, hướng tới cơ chế doanh nghiệp chỉ khai báo một lần, dữ liệu được tự động đồng bộ giữa các lực lượng chức năng. Hiệu quả bước đầu khá rõ nét: thời gian xử lý phương tiện qua cổng kiểm soát giảm từ 4-6 phút xuống dưới 2 phút; lưu lượng thông quan tăng từ khoảng 300 xe/ngày năm 2023 lên 450 xe/ngày năm 2024 và ổn định khoảng 500 xe/ngày năm 2025. Có thời điểm, hệ thống xử lý tới 600 xe/ngày, cho thấy năng lực vận hành mới của cửa khẩu số Lào Cai (Ngô Kiến, 2026).
Tại Lạng Sơn, thời gian thực hiện thủ tục thông quan đã được rút ngắn đáng kể, từ nhiều giờ xử lý hồ sơ giấy xuống chỉ còn khoảng 2-5 phút cho mỗi phương tiện trên nền tảng trực tuyến (Sở TT&TT Lạng Sơn, 2023). Việc số hóa quy trình giúp doanh nghiệp có thể khai báo từ xa, không phụ thuộc vào thời gian hay địa điểm làm việc hành chính, qua đó nâng cao tính linh hoạt và hạn chế phát sinh chi phí không chính thức.
Dữ liệu từ hệ thống cho thấy doanh nghiệp có thể kê khai một lần, từ bất kỳ vị trí và thời điểm nào, với thời gian kê khai khoảng 2-5 phút. Đồng thời, mô hình vận chuyển hàng hóa hai chiều tại cửa khẩu Tân Thanh đã góp phần rút ngắn khoảng 20-25% tổng thời gian thông quan nhờ giảm tình trạng xe chạy rỗng và tối ưu hóa vòng quay phương tiện (Sở TT&TT Lạng Sơn, 2023; VOV, 2026).
Những kết quả đạt được cho thấy chuyển đổi số tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc không chỉ mang ý nghĩa cải cách hành chính mà còn trở thành động lực thúc đẩy hiện đại hóa quản trị biên giới, nâng cao năng lực cạnh tranh logistics và tăng cường kết nối thương mại quốc tế. Với những thành tựu nổi bật trong xây dựng nền tảng cửa khẩu số, tỉnh Lạng Sơn đã được trao Giải thưởng “Cặp bài toán và giải pháp chuyển đổi số cho địa phương xuất sắc nhất” tại Viet Solutions năm 2022 và được vinh danh là “Cơ quan nhà nước chuyển đổi số xuất sắc” (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022; Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2022).
Tăng trưởng kim ngạch thương mại và nguồn thu ngân sách
Quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa hạ tầng cửa khẩu tại các tỉnh biên giới phía Bắc đang tạo ra những chuyển biến rõ nét trong hoạt động xuất nhập khẩu, quản lý nhà nước và phát triển logistics xuyên biên giới. Thực tiễn triển khai tại các cửa khẩu trọng điểm như Lạng Sơn, Móng Cái và Lào Cai cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ số có mối quan hệ chặt chẽ với tốc độ thông quan, quy mô lưu chuyển hàng hóa và năng lực cạnh tranh thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế số ngày càng sâu rộng.
Trước hết, chuyển đổi số đã góp phần nâng cao đáng kể hiệu quả xử lý thủ tục hải quan và giảm thời gian thông quan. Việc triển khai nền tảng cửa khẩu số, khai báo điện tử, thanh toán trực tuyến và điều phối phương tiện tự động đã giúp nhiều quy trình quản lý được thực hiện trên môi trường số thay cho phương thức thủ công truyền thống. Tại Lạng Sơn, sau khi áp dụng nền tảng cửa khẩu số, thời gian xử lý phương tiện giảm xuống chỉ còn khoảng 2-5 phút đối với nhiều khâu nghiệp vụ thông thường, trong khi doanh nghiệp có thể thực hiện khai báo từ xa mà không phải di chuyển giữa nhiều cơ quan chức năng (Sở TT&TT Lạng Sơn, 2023). Điều này góp phần giảm đáng kể tình trạng ùn tắc và nâng cao khả năng tiếp nhận lưu lượng lớn phương tiện tại khu vực cửa khẩu.
Hiệu quả của chuyển đổi số được phản ánh rõ qua số liệu lưu chuyển hàng hóa tại Lạng Sơn. Tính đến ngày 08/5/2026, tổng số phương tiện xuất nhập khẩu thông quan qua địa bàn đạt 213.402 xe, trong đó có 54.933 xe xuất khẩu và 158.469 xe nhập khẩu (Cục Hải quan Lạng Sơn, 2026). Riêng trong ngày 08/5/2026, lưu lượng phương tiện đạt 1.887 xe, gồm 558 xe xuất khẩu và 1.329 xe nhập khẩu. So với giai đoạn trước khi triển khai đồng bộ nền tảng quản lý điện tử, đây là mức tăng trưởng đáng kể về năng lực xử lý phương tiện, cho thấy hiệu quả tích cực của việc số hóa hoạt động điều phối và kiểm soát giao thông cửa khẩu.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số còn thúc đẩy xu hướng chuyên môn hóa hoạt động thương mại tại từng cửa khẩu thành viên. Tại cửa khẩu Hữu Nghị, lưu lượng trung bình đạt khoảng 1.062 xe/ngày, trong đó xe nhập khẩu chiếm khoảng 71,2% tổng lưu lượng phương tiện. Đây đồng thời là đầu mối nhập khẩu ô tô nguyên chiếc lớn khi lũy kế số xe ô tô nhập khẩu đạt 18.873 xe tính đến tháng 5/2026 (Cục Hải quan Lạng Sơn, 2026). Trong khi đó, cửa khẩu Tân Thanh tiếp tục giữ vai trò trung tâm xuất khẩu nông sản với mặt hàng hoa quả tươi chiếm khoảng 85% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu. Sự phân công chức năng tương đối rõ giữa các cửa khẩu đã giúp tối ưu hóa khai thác hạ tầng, hạn chế áp lực tập trung phương tiện tại một khu vực duy nhất và nâng cao hiệu quả vận hành logistics biên giới.
Đối với Quảng Ninh, chuyển đổi số được triển khai theo hướng quản trị liên thông giữa hải quan, biên phòng và cơ quan quản lý cửa khẩu. Lũy kế từ 1/1-11/4/2026, số tờ khai mở tại Hải quan cửa khẩu quốc tế Móng Cái đạt 32.284 tờ khai, tăng khoảng 14% so với cùng kỳ năm trước (Quang Tùng, 2026). Kết quả này cho thấy việc ứng dụng nền tảng số đã góp phần nâng cao hiệu quả điều phối lưu lượng hàng hóa và giảm áp lực thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Tại Lào Cai, việc triển khai nền tảng cửa khẩu số đã góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và giảm đáng kể thủ tục trung gian. Theo Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai (2025), số lượng “điểm chạm” hành chính của doanh nghiệp giảm từ 19 xuống còn 4 điểm sau khi áp dụng cơ chế quản lý điện tử liên thông. Đồng thời, thời gian xử lý phương tiện tại các barrier kiểm soát giảm từ khoảng 4-6 phút xuống còn dưới 2 phút. Những cải thiện này đặc biệt có ý nghĩa đối với hoạt động xuất khẩu nông sản, giúp giảm thời gian chờ đợi và hạn chế rủi ro hư hỏng hàng hóa.
Không chỉ cải thiện hiệu quả thông quan, chuyển đổi số còn tạo tác động tích cực đối với nguồn thu ngân sách và quản lý tài chính công tại khu vực cửa khẩu. Tại Lào Cai, số thu ngân sách từ hoạt động hải quan năm 2025 đạt khoảng 1.212,5 tỷ đồng - mức cao nhất kể từ năm 2020 (Báo Lào Cai, 2025b). Kết quả này cho thấy việc ứng dụng thanh toán điện tử, quản lý dữ liệu tập trung và số hóa quy trình kiểm tra, giám sát đã góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm thất thu thuế và tăng hiệu quả quản lý nhà nước.
Về dài hạn, chuyển đổi số đang tạo nền tảng thúc đẩy phát triển mô hình cửa khẩu thông minh thế hệ mới tại Việt Nam. Theo định hướng của Chính phủ, khi hệ thống cửa khẩu thông minh Móng Cái được triển khai đồng bộ, thời gian thông quan đối với các lô hàng chuyên dụng có thể giảm xuống còn khoảng 4–6 giờ, đồng thời doanh nghiệp có thể tiết kiệm khoảng 30-40% chi phí liên quan đến vận tải, lưu kho và dịch vụ logistics phụ trợ (Thủ tướng Chính phủ, 2026a). Đây không chỉ là giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại biên giới mà còn góp phần hình thành các trung tâm logistics xuyên biên giới quy mô lớn kết nối sâu hơn với chuỗi cung ứng khu vực Đông Á và ASEAN.
Nhìn chung, thực tiễn tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc cho thấy chuyển đổi số đang tạo ra tác động đa chiều đối với hoạt động xuất nhập khẩu và logistics. Quá trình này không chỉ góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và giảm chi phí logistics mà còn thúc đẩy hiện đại hóa quản trị biên giới theo hướng minh bạch, tự động hóa và dựa trên dữ liệu số. Trong bối cảnh cạnh tranh chuỗi cung ứng và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tiếp tục phát triển hải quan số và cửa khẩu thông minh sẽ có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh thương mại của Việt Nam.
HẠN CHẾ VÀ THÁCH THỨC TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ HẢI QUAN TẠI CÁC CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
Mặc dù chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình triển khai vẫn đối mặt với nhiều thách thức về hạ tầng công nghệ, tính đồng bộ dữ liệu, an ninh mạng và khuôn khổ pháp lý. Trong bối cảnh thương mại Việt Nam - Trung Quốc ngày càng gia tăng cả về quy mô và mức độ tự động hóa, các hạn chế này đang ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thông quan và tính bền vững của mô hình cửa khẩu thông minh.
Trước hết, hạ tầng công nghệ thông tin tại nhiều cửa khẩu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu vận hành của hệ thống quản lý số quy mô lớn. Khi lưu lượng phương tiện và tờ khai tăng mạnh, nguy cơ quá tải hệ thống, gián đoạn xử lý dữ liệu và phát sinh lỗi kỹ thuật vẫn hiện hữu. Một số quy trình thông quan tự động có thể bị ảnh hưởng bởi lỗi kết nối liên ngành, xác thực dữ liệu hoặc kiểm tra chuyên sâu đối với các tờ khai rủi ro, khiến nhiều khâu phải quay lại xử lý bán thủ công, làm giảm hiệu quả tự động hóa và gia tăng nguy cơ ùn tắc tại khu vực cửa khẩu.
Bên cạnh đó, việc tích hợp và chia sẻ dữ liệu giữa hải quan, biên phòng, kiểm dịch và doanh nghiệp logistics vẫn chưa thực sự đồng bộ. Sự khác biệt về tiêu chuẩn dữ liệu và khả năng kết nối hệ thống có thể làm kéo dài thời gian xử lý và ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị cửa khẩu số. Điều này cho thấy yêu cầu cấp thiết về chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng cơ chế liên thông thông tin giữa các cơ quan chức năng.
Một thách thức quan trọng khác là sự phụ thuộc ngày càng lớn vào hạ tầng viễn thông và kết nối số xuyên biên giới. Các mô hình logistics thông minh và phương tiện tự hành AGV/IGV đòi hỏi mạng 5G chuyên dụng có độ ổn định cao. Tuy nhiên, việc triển khai tại khu vực biên giới đặt ra nhiều khó khăn trong điều phối tần số vô tuyến điện và kiểm soát can nhiễu tín hiệu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu không có cơ chế phối hợp kỹ thuật hiệu quả, nguy cơ gián đoạn hệ thống có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận hành logistics thông minh.
Đồng thời, an ninh mạng và bảo mật dữ liệu xuyên biên giới đang trở thành vấn đề mang tính chiến lược. Việc trao đổi dữ liệu thương mại và kiểm soát hải quan theo thời gian thực đòi hỏi hệ thống kết nối phải bảo đảm an toàn thông tin ở mức độ cao nhằm hạn chế nguy cơ tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu và gián đoạn chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh chuyển đổi số gắn liền với an ninh kinh tế và chủ quyền số quốc gia, yêu cầu bảo mật hệ thống ngày càng trở nên cấp thiết.
Ngoài ra, sự chênh lệch về hạ tầng và mức độ hoàn thiện thể chế giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng tạo ra thách thức đối với hiệu quả kết nối cửa khẩu thông minh. Trong khi phía Trung Quốc đã phát triển mạnh hệ thống logistics tự động hóa và cửa khẩu số quy mô lớn, nhiều khu vực phía Việt Nam vẫn trong giai đoạn đầu tư và hoàn thiện cơ chế vận hành. Bên cạnh đó, khung pháp lý đối với phương tiện tự hành, logistics thông minh và quản trị dữ liệu xuyên biên giới tại Việt Nam vẫn chưa đầy đủ, tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình triển khai thực tế.
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Trong bối cảnh cạnh tranh logistics khu vực ngày càng gia tăng và xu hướng số hóa thương mại xuyên biên giới diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đặt mục tiêu nâng năng lực thông quan tại cửa khẩu Móng Cái tăng gấp ba lần và tại Lạng Sơn tăng khoảng bốn đến năm lần vào năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2026a). Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp về công nghệ, thể chế và đầu tư hạ tầng.
Thứ nhất, thúc đẩy xây dựng cơ chế điều phối tần số vô tuyến điện song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc nhằm phục vụ vận hành mạng Private 5G tại khu vực cửa khẩu thông minh. Bộ Thông tin và Truyền thông cần phối hợp với cơ quan quản lý tần số phía Trung Quốc để xây dựng thỏa thuận phân bổ và quản lý băng tần tại khu vực biên giới, qua đó bảo đảm tín hiệu điều khiển ổn định cho hệ thống phương tiện tự hành AGV/IGV và hạn chế nguy cơ can nhiễu xuyên biên giới. Đây là điều kiện nền tảng để duy trì hoạt động logistics tự động hóa liên tục và an toàn.
Thứ hai, đẩy nhanh tiến trình đàm phán với phía Trung Quốc nhằm thiết lập cơ chế công nhận lẫn nhau đối với dữ liệu hải quan điện tử, kiểm dịch số và chứng nhận xuất xứ điện tử. Việc hình thành cơ chế “một lần khai báo, hai bên cùng công nhận” sẽ giúp giảm đáng kể thời gian xử lý hồ sơ, hạn chế kiểm tra chồng chéo và tiến tới mục tiêu rút ngắn thời gian thông quan xuống còn khoảng 4–6 giờ đối với các lô hàng chuyên dụng (Thủ tướng Chính phủ, 2026a). Đồng thời, cơ chế này còn góp phần tăng tính minh bạch và khả năng kết nối dữ liệu trong chuỗi logistics xuyên biên giới.
Thứ ba, sớm ban hành khung pháp lý tạm thời điều chỉnh hoạt động của phương tiện tự hành không người lái tại khu vực cửa khẩu biên giới. Hành lang pháp lý này cần quy định rõ tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế đăng kiểm, yêu cầu bảo đảm an toàn vận hành, trách nhiệm dân sự khi xảy ra sự cố và cơ chế bảo hiểm đối với phương tiện tự hành trong môi trường logistics thông minh. Việc hoàn thiện thể chế sẽ tạo cơ sở pháp lý để triển khai rộng rãi các mô hình vận tải tự động trong tương lai.
Thứ tư, tiếp tục ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng logistics thông minh theo hướng đồng bộ giữa cửa khẩu đường bộ, cảng biển và hệ thống kho vận hiện đại. Các địa phương biên giới cần tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa và thu hút đầu tư tư nhân vào các dự án mở rộng bến bãi sang tải, kho lạnh bảo quản nông sản, trung tâm logistics và hệ thống làn xe chuyên dụng phục vụ cửa khẩu thông minh. Đặc biệt, việc kết nối hiệu quả giữa cảng biển Vạn Ninh với các cửa khẩu đường bộ sẽ góp phần hình thành chuỗi logistics đa phương thức hiện đại, tạo động lực thúc đẩy xuất nhập khẩu bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế số toàn cầu.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Lào Cai (2025). Báo cáo kết quả triển khai nền tảng cửa khẩu số tại Lào Cai.
2. Ban Quản lý KKT cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn (2025). Tài liệu cung cấp thông tin về hạ tầng cửa khẩu Tân Thanh và triển khai cửa khẩu thông minh.
3. Báo Lào Cai (2025a). Nền tảng cửa khẩu số: Tạo đột phá phục vụ xuất - nhập khẩu. https://baolaocai.vn/nen-tang-cua-khau-so-tao-dot-pha-phuc-vu-xuat-nhap-khau-post374004.html
4. Báo Lào Cai (2025b). Hải quan Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai thu ngân sách đạt hơn 1.212 tỷ đồng, vượt 134,7% chỉ tiêu Bộ Tài chính giao. https://baolaocai.vn/hai-quan-cua-khau-quoc-te-lao-cai-thu-ngan-sach-dat-hon-1212-ty-dong-vuot-1347-chi-tieu-bo-tai-chinh-giao-post890318.html
5. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
6. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). Cuộc thi “Tìm kiếm giải pháp Chuyển đổi số Quốc gia - Viet Solutions” năm 2022.
7. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn (2025). Khánh thành công trình đường chuyên dụng vận chuyển hàng hóa khu vực mốc 1119-1120 cửa khẩu thông minh Hữu Nghị (Việt Nam) - Hữu Nghị Quan (Trung Quốc). https://langson.gov.vn/menuslide/video/khanh-thanh-cong-trinh-duong-chuyen-dung-van-chuyen-hang-hoa-khu-vuc-moc-1119-1120-cua-khau-thong-minh-huu-nghi-viet-nam.html
8. Cục Hải quan Lạng Sơn (2026). Số liệu phương tiện xuất nhập khẩu thông quan qua địa bàn tỉnh Lạng Sơn tính đến ngày 08/5/2026. Tài liệu thống kê.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
10. Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2022). Trao giải cho 5 cặp đơn vị đưa ra bài toán và giải pháp chuyển đổi số xuất sắc. https://www.vsta.org.vn/trao-giai-cho-5-cap-don-vi-dua-ra-bai-toan-va-giai-phap-chuyen-doi-so-xuat-sac-22423.html
11. Ngô Kiến (2026). Bài 3: Cửa khẩu thông minh Lào Cai - “Cú hích” mới cho kinh tế biên mậu. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/bai-3-cua-khau-thong-minh-lao-cai-cu-hich-moi-cho-kinh-te-bien-mau-155326.html
12. Quang Tùng (2026). Bài 2: Ghi nhận cửa khẩu thông minh tại địa đầu Móng Cái - Quảng Ninh. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/bai-2-ghi-nhan-cua-khau-thong-minh-tai-dia-dau-mong-cai-quang-ninh-155329.html
13. Sở TT&TT Lạng Sơn (2023). Kết quả sau một năm triển khai Nền tảng cửa khẩu số tỉnh Lạng Sơn. https://cds.langson.gov.vn/index.php/ket-qua-sau-mot-nam-trien-khai-nen-tang-cua-khau-so-tinh-lang-son
14. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
15. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 20/5/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030.
16. Thủ tướng Chính phủ (2026a). Quyết định số 164/QĐ-TTg ngày 26/01/2026 phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng cửa khẩu thông minh tại khu vực cửa khẩu quốc tế Móng Cái - Đông Hưng.
17. Thủ tướng Chính phủ (2026b). Quyết định số 453/QĐ-TTg ngày 18/3/2026 phê duyệt Đề án xây dựng cửa khẩu thông minh tại lối thông quan cầu đường bộ Kim Thành và lối thông quan Bản Vược thuộc Cửa khẩu quốc tế Lào Cai.
18. UBND tỉnh Quảng Ninh (2026). Xây dựng cửa khẩu thông minh Móng Cái - Đông Hưng. https://quangninh.gov.vn/chuyen-de/hotroDNNVV/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=159761
19. VOV (2026). Cửa khẩu Tân Thanh thí điểm vận chuyển 2 chiều: Rút ngắn 25% thời gian thông quan. https://vov.vn/kinh-te/cua-khau-tan-thanh-thi-diem-van-chuyen-2-chieu-rut-ngan-25-thoi-gian-thong-quan-post1254885.vov.
| Ngày nhận bài: 15/04/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 20/5/2026; Ngày duyệt đăng: 26/5/2026 |
Các tin khác
Công nhận giá trị pháp lý và quy kết hành vi trong giao kết hợp đồng tự động: Kinh nghiệm từ Luật mẫu UNCITRAL và bài học cho Việt Nam
Đề xuất khung đánh giá mức độ ứng dụng AI trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Vận dụng dữ liệu chi phí kế toán quản trị để xây dựng mô hình tối ưu sẵn sàng cho điện toán lượng tử trong chuỗi cung ứng doanh nghiệp F&B tại Việt Nam
Tác động phi tuyến của chuyển đổi xanh đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Tổng quan nghiên cứu đo lường đóng góp của kinh tế sinh học vào nền kinh tế
Trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi động lực tăng trưởng ở Việt Nam: Điều kiện hấp thụ và hàm ý chính sách
Nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý và sử dụng tài sản tịch thu trong lĩnh vực hải quan
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hải quan tại các khu thương mại tự do ở Việt Nam
Tác động của người ảnh hưởng xanh đến ý định mua sản phẩm xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh