Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Đà Lạt

Nghiên cứu - Trao đổi 10:07 | 10/09/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, ngành Kinh tế cần nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng thực tế nhiều sinh viên mất dần động lực học tập, đặc biệt sau các học kỳ đầu.

ThS. Hoàng Cao Quỳnh Anh

Khoa Kinh tế, Trường Cao đẳng Đà Lạt

Email: [email protected]

Tóm tắt

Động lực học tập là yếu tố then chốt quyết định kết quả học tập và sự phát triển nghề nghiệp của sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối ngành Kinh tế. Nghiên cứu này nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế tại Trường Cao đẳng Đà Lạt. Dữ liệu được thu thập từ 207 sinh viên thông qua bảng hỏi trực tuyến và phân tích bằng SPSS 27. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy cả 6 yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực đến Động lực học tập, theo thứ tự từ mạnh đến yếu lần lượt là: Mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng, Phương pháp giảng dạy của giảng viên, Sự hỗ trợ từ nhà trường và giảng viên, Áp lực từ gia đình - xã hội, Cơ sở vật chất - phương tiện học tập, và Môi trường học tập. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao động lực học tập cho sinh viên khối ngành Kinh tế.

Từ khoá: Động lực học tập, sinh viên kinh tế, mục tiêu nghề nghiệp, phương pháp giảng dạy, Cao đẳng Đà Lạt

Abstract

Learning motivation is a key determinant of students’ academic performance and career development, particularly among students majoring in Economics. This study aims to identify and measure the factors influencing the learning motivation of Economics students at Da Lat College. Data were collected from 207 students through an online questionnaire and analyzed using SPSS 27. The regression results indicate that all six factors have positive effects on learning motivation, ranked from strongest to weakest as follows: clear career goals, lecturers’ teaching methods, support from the college and lecturers, family and social pressure, learning facilities and resources, and learning environment. Based on these findings, the study proposes several implications for enhancing the learning motivation of students majoring in Economics.

Keywords: Learning motivation, economics students, career goals, teaching methods, Da Lat College

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, ngành Kinh tế cần nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng thực tế nhiều sinh viên mất dần động lực học tập, đặc biệt sau các học kỳ đầu. Động lực học tập ảnh hưởng đến điểm số, sự sáng tạo và định hướng nghề nghiệp (Ryan và Deci, 2020). Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào học sinh phổ thông hoặc sinh viên y khoa, ít có nghiên cứu cho sinh viên Kinh tế tại vùng Tây Nguyên, cụ thể là Trường Cao đẳng Đà Lạt.

Khác với sinh viên ở TP. Hồ Chí Minh hay Hà Nội - nơi có thị trường lao động sôi động - sinh viên tại Đà Lạt đối mặt với khoảng cách xa trung tâm kinh tế, cơ cấu kinh tế địa phương chủ yếu là nông nghiệp và du lịch. Vì vậy, mục tiêu nghề nghiệp có thể là yếu tố then chốt quyết định đến động lực, kết quả học tập và sự phát triển nghề nghiệp của sinh viên.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết tự quyết (Deci và Ryan, 1985) khẳng định rằng, khi 3 nhu cầu năng lực, liên quan và tự chủ được đáp ứng, động lực nội tại của sinh viên sẽ gia tăng. Thuyết kỳ vọng (Vroom, 1964) bổ sung rằng động lực phụ thuộc vào kỳ vọng, phương tiện và giá trị phần thưởng, trong khi Mô hình ARCS (Keller, 1987) nhấn mạnh thiết kế giảng dạy cần được quan tâm, liên quan thực tế, tạo tự tin và sự thỏa mãn.

Giả thuyết nghiên cứu

Mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng

Theo Thuyết kỳ vọng (Vroom, 1964), khi sinh viên xác định được nghề nghiệp cụ thể sau khi tốt nghiệp, họ sẽ nỗ lực học tập để đạt được các điều kiện cần thiết. Nghiên cứu của Phạm Thị Hương (2020) khẳng định mối quan hệ tích cực giữa mục tiêu nghề nghiệp và động lực học tập. Từ đó, tác giả đề xuất giả thuyết:

H1: Mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng có ảnh hưởng tích cực đến Động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế.

Phương pháp giảng dạy của giảng viên

Theo Mô hình ARCS của Keller (1987), giảng viên cần tạo sự chú ý, liên hệ thực tiễn, xây dựng niềm tin và sự hài lòng để duy trì động lực học tập. Đối với sinh viên Kinh tế, các phương pháp giảng dạy tích cực như case study, mô phỏng kinh doanh, thảo luận nhóm, học tập dựa trên dự án giúp tăng hứng thú và sự tham gia. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H2: Phương pháp giảng dạy của giảng viên có ảnh hưởng tích cực đến Động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế.

Môi trường học tập

Theo Lý thuyết tự quyết (Deci và Ryan, 1985), môi trường học tập đáp ứng nhu cầu liên quan của sinh viên thông qua mối quan hệ bạn bè, tương tác nhóm và hoạt động cộng đồng, từ đó gia tăng động lực nội tại. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam đều khẳng định tác động tích cực của môi trường học tập đến động lực của sinh viên kinh tế (Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt, 2016; Trần Văn Hải, 2025). Do vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H3: Môi trường học tập có ảnh hưởng tích cực đến Động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế.

Sự hỗ trợ từ nhà trường và giảng viên

Theo Lý thuyết tự quyết (Deci và Ryan, 1985), sự hỗ trợ từ giảng viên và nhà trường giúp thỏa mãn nhu cầu về năng lực và sự liên quan, từ đó thúc đẩy sinh viên nỗ lực và kiên trì hơn trong học tập. Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam đều khẳng định tác động tích cực của yếu tố này đến động lực học tập của sinh viên khối ngành Kinh tế (Hoàng Thị Mỹ Nga và Nguyễn Tuấn Kiệt, 2016; Nguyễn Vũ Trâm Anh và cộng sự, 2024; Hoàng Thị Doan và Nguyễn Thanh Tùng, 2025). Từ đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H4: Sự hỗ trợ từ nhà trường và giảng viên có ảnh hưởng tích cực đến Động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế.

Cơ sở vật chất - phương tiện học tập

Thư viện, phòng tự học, wifi, phần mềm chuyên ngành, máy tính… là điều kiện cần để sinh viên có thể học tập hiệu quả. Thiếu các phương tiện này sẽ gây cản trở và giảm động lực. Tuy nhiên, mức độ tác động thường thấp hơn các yếu tố tinh thần. Theo Goh và cộng sự (2016), cơ sở vật chất có ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H5: Cơ sở vật chất - phương tiện học tập có ảnh hưởng tích cực đến Động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế.

Áp lực từ gia đình và xã hội

Kỳ vọng của cha mẹ, sự so sánh với anh chị em, áp lực tài chính hoặc kỳ vọng có việc làm ổn định có thể tạo ra động lực ngoại tại. Nghiên cứu của Trịnh Văn Hùng (2020) tìm thấy tác động tích cực của mối quan hệ này. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H6: Áp lực từ gia đình và xã hội có ảnh hưởng tích cực đến động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa trên cơ sở lý thuyết và các giả thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Đà Lạt

Nguồn: Đề xuất của tác giả

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng. Thang đo được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết đã trình bày và kế thừa từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, đồng thời có điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh sinh viên ngành Kinh tế tại Trường Cao đẳng Đà Lạt. Tất cả các biến quan sát đều sử dụng thang đo Likert 5 điểm (từ 1 - Hoàn toàn không đồng ý, đến 5 - Hoàn toàn đồng ý).

Trong giai đoạn định tính, nghiên cứu phỏng vấn sâu 10 sinh viên và 5 giảng viên để hiệu chỉnh thang đo. Kết quả mô hình vẫn giữ nguyên 29 biến quan sát ban đầu (25 biến độc lập, 4 biến phụ thuộc).

Trong giai đoạn nghiên cứu định lượng, sau khi khảo sát 30 sinh viên để kiểm định thang đo, tác giả gửi 250 phiếu khảo sát, thu về 207 phiếu hợp lệ. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 27 với các kiểm định Cronbach’s Alpha, EFA, tương quan và hồi quy tuyến tính bội.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha: thang đo PP ban đầu (5 biến) có Alpha = 0,774 nhưng biến PP2 có tương quan biến - tổng thấp (0,175) nên bị loại, sau đó 4 biến còn lại đạt Alpha = 0,839. Thang đo AL (5 biến) có Alpha = 0,702, loại biến AL1 (tương quan 0,129), còn 4 biến đạt Alpha = 0,765. Các thang đo còn lại (HT, MT, MTT, CS, DL) đều có Alpha từ 0,753-0,851. Tất cả thang đo sau hiệu chỉnh đều đạt độ tin cậy cao (Alpha > 0,75).

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

EFA cho các biến độc lập

Kết quả EFA cho các biến độc lập: KMO = 0,744; Bartlett’s test có Sig. = 0,000; 6 nhân tố được trích với eigenvalue > 1, tổng phương sai trích đạt 66,738%. Ma trận xoay cho thấy các biến quan sát hội tụ đúng 6 nhân tố kỳ vọng với hệ số tải từ 0,710 đến 0,867, không có hiện tượng tải chéo. Tất cả 23 biến sau hiệu chỉnh đều được giữ lại.

EFA cho biến phụ thuộc Động lực học tập

KMO = 0,746, Bartlett’s test Sig. = 0,000. Một nhân tố duy nhất được trích với eigenvalue = 2,439, giải thích 60,966% phương sai. Các biến DL2, DL3, DL4, DL1 lần lượt có hệ số tải 0,843; 0,820; 0,750; 0,703, đều đạt yêu cầu.

Phân tích tương quan Pearson

Kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy, biến phụ thuộc có tương quan thuận có ý nghĩa với tất cả biến độc lập. Trong đó, MT (r = 0,559) và PP (r = 0,522) có hệ số cao nhất, tiếp đến là MTT, AL, HT và CS. Các biến độc lập tương quan yếu với nhau, không xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Phân tích hồi quy tuyến tính bội

Kết quả phân tích hồi quy cho kết quả: Hệ số R = 0,865; R² = 0,749; R² hiệu chỉnh = 0,741. Durbin-Watson = 1,841 (gần bằng 2, không có tự tương quan). Kiểm định F = 99,452 với Sig. = 0,000, chứng tỏ mô hình có ý nghĩa thống kê.

Bảng: Bảng hệ số hồi quy

Biến

Hệ số chưa chuẩn hóa (B)

Std. Error

Hệ số chuẩn hóa (Beta)

t

Sig.

Hằng số

0,254

0,194

-

1,313

0,191

PP

0,163

0,016

0,372

10,187

0,000

HT

0,159

0,021

0,272

7,569

0,000

MT

0,197

0,016

0,454

12,314

0,000

MTT

0,157

0,031

0,188

5,083

0,000

CS

0,213

0,032

0,234

6,550

0,000

AL

0,115

0,017

0,249

6,816

0,000

Nguồn: Kết quả phân tích SPSS

Kết quả tại Bảng cho thấy, tất cả các biến độc lập đều có Sig. < 0,05, do đó cả 6 giả thuyết đều được chấp nhận. Hệ số phóng đại phương sai (VIF) của các biến đều nhỏ hơn 1,1, khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến.

Phương trình hồi quy chuẩn hóa được viết như sau:

DL = 0,454xMT + 0,372xPP + 0,272xHT + 0,249xAL + 0,234xCS + 0,188xMTT

Kết quả cho thấy Mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng (MT) có tác động mạnh nhất đến Động lực học tập, tiếp theo lần lượt là Phương pháp giảng dạy (PP), Sự hỗ trợ (HT), Áp lực gia đình - xã hội (AL), Cơ sở vật chất (CS) và cuối cùng là Môi trường học tập (MTT).

Kiểm tra các giả định hồi quy

Biểu đồ phân phối phần dư (Histogram và P-P plot) cho thấy phần dư tuân theo phân phối chuẩn (Mean gần 0, Std. Dev. = 0,985). Biểu đồ Scatterplot của phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa không có dạng hình phễu hoặc xu hướng đặc biệt, chứng tỏ phương sai của phần dư là đồng nhất (không vi phạm giả định phương sai bằng nhau). Như vậy, mô hình hồi quy đáp ứng các giả định cần thiết.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định, cả 6 yếu tố: Mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng, Phương pháp giảng dạy của giảng viên, Sự hỗ trợ từ nhà trường và giảng viên, Áp lực gia đình - xã hội, Cơ sở vật chất - phương tiện học tập, Môi trường học tập đều có tác động tích cực đến Động lực học tập. Trong đó, Mục tiêu nghề nghiệp rõ ràng có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp đến là Phương pháp giảng dạy, Sự hỗ trợ, Áp lực gia đình - xã hội, Cơ sở vật chất và cuối cùng là Môi trường học tập. Mô hình giải thích được 74,1% sự biến thiên của Động lực học tập, cho thấy độ phù hợp cao. Đáng chú ý, khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Trang (2021) tại TP. Hồ Chí Minh và Lê Văn Hùng (2022) tại Hà Nội - nơi môi trường học tập có vai trò quan trọng - tại Đà Lạt, yếu tố này lại có tác động thấp nhất, trong khi mục tiêu nghề nghiệp lại vượt trội. Sự khác biệt này phản ánh bối cảnh vùng Tây Nguyên với cơ hội việc làm tại chỗ hạn chế, áp lực cạnh tranh thấp và hệ thống định hướng nghề nghiệp chưa mạnh, khiến mục tiêu cá nhân trở thành động lực quyết định.

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất Nhà trường cần tăng cường các hoạt động tương tác bắt buộc như bài tập nhóm xuyên suốt học kỳ, tổ chức giải case study cấp khoa, đầu tư câu lạc bộ học thuật; đồng thời tổ chức tuần định hướng nghề nghiệp ngay từ năm thứ nhất, mời cựu sinh viên và doanh nghiệp tham gia mentoring; giảng viên cần áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực như case study, thảo luận nhóm, mô phỏng và phản hồi bài tập kịp thời; gia đình nên thể hiện kỳ vọng tích cực thay vì gây áp lực quá mức.

Bên cạnh những đóng góp, nghiên cứu còn hạn chế về cỡ mẫu, chưa kiểm soát các biến nền như học lực đầu vào hay thu nhập gia đình, và đây là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ dừng lại ở mối quan hệ tương quan, chưa khẳng định nhân quả. Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng địa bàn, tăng cỡ mẫu, sử dụng thiết kế dọc và bổ sung biến kiểm soát để có kết luận chính xác hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. Deci, E. L., & Ryan, R. M. (1985). Intrinsic motivation and self-determination in human behavior. Plenum Press.

2. Goh, J. X., Hall, J. A., & Rosenthal, R. (2016). Mini meta-analysis of your own studies: Some arguments on why and a primer on how. Social and Personality Psychology Compass, 10(10), 535-549. https://doi.org/10.1111/spc3.12267

3. Hoàng Thị Doan, & Nguyễn Thanh Tùng (2025). Factors influencing students' learning motivation in the Faculty of Economics and Law at Dong Thap University. TNU Journal of Science and Technology, 230(08), 104-110.

4. Hoàng Thị Mỹ Nga & Nguyễn Tuấn Kiệt (2016). Phân tích các nhân tố tác động đến động lực học tập của sinh viên kinh tế Trường Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, (46), 107-115.

5. Keller, J. M. (1987). Development and use of the ARCS model of instructional design. Journal of Instructional Development, 10(3), 2-10.

6. Lê Văn Hùng (2022). Môi trường học tập và động lực học tập của sinh viên đại học khối ngành Kinh tế. Tạp chí Giáo dục Đại học, 15(2), 34-45.

7. Nguyễn Thị Mai Trang (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên ngành Kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 28(4), 56-68.

8. Nguyễn Vũ Trâm Anh, Võ Thanh Trúc & Đặng Thị Thúy An (2024). Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên: Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh - Phân hiệu Vĩnh Long. Tạp chí Giáo dục, 24(12), 59-64.

9. Phạm Thị Hương (2020). Mục tiêu nghề nghiệp và kết quả học tập: Nghiên cứu sinh viên năm cuối trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tạp chí Khoa học Giáo dục, 41(3), 78-89.

10. Ryan, R. M., & Deci, E. L. (2020). Intrinsic and extrinsic motivation from a self-determination theory perspective: Definitions, theory, practices, and future directions. Contemporary Educational Psychology, 61, 101860.

11. Trần Văn Hải (2025). Ảnh hưởng của động lực, môi trường và phương pháp giảng dạy đến hành vi học tập của sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (602), Bài số 31540.

12. Trịnh Văn Hùng (2020). Áp lực gia đình và động lực học tập của sinh viên vùng khó khăn. Tạp chí Tâm lý học, 22(1), 44-58.

13. Vroom, V. H. (1964). Work and motivation. Wiley.

Ngày nhận bài: 8/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 8/9/2026

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.