Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh
ThS. Vũ Ngọc Thắng, ThS. Nguyễn Thị Giang, ThS. Hán Đức Hải,
Hoàng Ngọc Huyền, Trương Phương Mai
Trường Đại học Đại Nam
Email: [email protected]
Tóm tắt
Tình trạng sinh viên thôi học đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam. Mô hình nghiên cứu đề xuất 4 nhóm nhân tố gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường và yếu tố xã hội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ công tác quản trị đại học, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thôi học và nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Đại Nam.
Từ khóa: Thôi học, sinh viên đại học, khối ngành kinh tế - kinh doanh, Đại học Đại Nam
Abstract
Student dropout has become one of the major challenges facing higher education institutions in Viet Nam. This study aims to identify and assess the extent to which various factors influence the dropout decisions of students majoring in Economics and Business at Dai Nam University. The proposed research model consists of 4 groups of factors, namely personal factors, family factors, institutional factors, and social factors. A mixed-methods approach was employed, integrating both qualitative and quantitative research methods. The findings provide empirical evidence to support university management and decision-making processes, while also offering practical recommendations to reduce student dropout rates and enhance the quality of education at Dai Nam University.
Keywords: Student dropout, university students, economics and business disciplines, Dai Nam University
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam đang chuyển mạnh sang cơ chế tự chủ và cạnh tranh, việc duy trì người học trở thành một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở đào tạo. Bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học, các trường đại học còn phải đối mặt với thách thức gia tăng tỷ lệ sinh viên bỏ học giữa chừng. Thôi học không chỉ gây lãng phí tài nguyên giáo dục, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội nghề nghiệp của sinh viên cũng như uy tín và chất lượng đào tạo của nhà trường (Vũ Ngọc Thắng và cộng sự, 2025). Đối với sinh viên, việc dừng học tập đồng nghĩa với việc mất đi cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng cạnh tranh nghề nghiệp trong tương lai. Đối với nhà trường, tỷ lệ thôi học cao ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô đào tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và uy tín của cơ sở giáo dục.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng quyết định thôi học chịu ảnh hưởng đồng thời bởi nhiều nhóm yếu tố khác nhau như đặc điểm cá nhân, điều kiện gia đình, chất lượng môi trường học tập và các tác động từ xã hội (Bean, 1980; Tinto, 1993).
Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu khảo sát sinh viên đang theo học, trong khi nhóm sinh viên đã thôi học – những người trực tiếp đưa ra quyết định – vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ.
Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu đó, bài viết tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách duy trì người học và nâng cao chất lượng đào tạo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Lý thuyết hòa nhập sinh viên của Tinto (1993).
Theo Ajzen (1991), quyết định của cá nhân được hình thành từ ý định hành vi, chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong GDĐH, quyết định thôi học là kết quả của quá trình sinh viên đánh giá lợi ích và chi phí của việc tiếp tục học tập.
Bên cạnh đó, Tinto (1993) cho rằng mức độ hòa nhập học thuật và xã hội có vai trò quan trọng đối với khả năng duy trì học tập của sinh viên; những sinh viên thiếu gắn kết với môi trường đại học thường có nguy cơ thôi học cao hơn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp định tính và định lượng, phương pháp định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu sinh viên và giảng viên nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thôi học của sinh viên và hoàn thiện thang đo. Trên cơ sở đó, phương pháp định lượng được triển khai bằng khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức đối với sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam.
Dữ liệu được thu thập từ tháng 8/2025 đến tháng 4/2026 với 434 phiếu hợp lệ trên tổng số 520 phiếu phát ra. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 26.0 thông qua các kỹ thuật: Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính đa biến, Independent Sample T-test và ANOVA.
MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Mô hình nghiên cứu đề xuất tại Hình 1, thể hiện 4 biến độc lập tác động trực tiếp đến 1 biến phụ thuộc. Các mối quan hệ được kiểm định thông qua phân tích định lượng (hồi quy) tại Hình 1.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Kết quả cho thấy tất cả các thang đo đều có Cronbach's Alpha > 0,7 và hệ số tương quan biến – tổng > 0,3 (Bảng 1), khẳng định độ tin cậy và tính nhất quán nội tại của các thang đo. Không có biến quan sát nào bị loại, do đó toàn bộ các biến được giữ lại để thực hiện phân tích EFA.
Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha
| Thang đo | Số biến quan sát | Cronbach's Alpha | Corrected Item – Total Correlation nhỏ nhất |
| Yếu tố cá nhân | 4 | 0,842 | 0,617 |
| Yếu tố gia đình | 4 | 0,816 | 0,582 |
| Yếu tố nhà trường | 4 | 0,874 | 0,641 |
| Yếu tố xã hội | 4 | 0,801 | 0,553 |
| Quyết định thôi học | 4 | 0,857 | 0,628 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Nghiên cứu tiến hành EFA (Bảng 2), kết quả cho thấy KMO = 0,891 (>0,5), Bartlett có Sig. = 0,000 ( 0,5 và không có tải chéo đáng kể, cho thấy thang đo đạt giá trị hội tụ và phân biệt tốt.
Bảng 2: Kết quả kiểm định EFA
| Chỉ tiêu | Giá trị |
| KMO | 0,891 |
| Bartlett's Test (Sig.) | 0,000 |
| Eigenvalue nhỏ nhất | 1,247 |
| Tổng phương sai trích (%) | 67,284 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát
Phân tích tương quan Pearson
Kết quả tương quan Pearson cho thấy tất cả các nhân tố độc lập đều tương quan cùng chiều với quyết định thôi học và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Trong đó, yếu tố cá nhân có mức tương quan cao nhất (r = 0,648), tiếp đến là gia đình (r = 0,591), nhà trường (r = 0,516) và xã hội (r = 0,472). Điều này cho thấy các yếu tố thuộc về bản thân sinh viên đóng vai trò quan trọng nhất đối với quyết định thôi học (Bảng 3).
Bảng 3: Kết quả phân tích tương quan Pearson
| Nhân tố | Hệ số tương quan (r) | Sig. |
| Yếu tố cá nhân | 0,648 | 0,000 |
| Yếu tố gia đình | 0,591 | 0,000 |
| Yếu tố nhà trường | 0,516 | 0,000 |
| Yếu tố xã hội | 0,472 | 0,000 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát
Hồi quy tuyến tính đa biến
Kết quả hồi quy tại Bảng 4 cho thấy mô hình nghiên cứu có mức độ phù hợp khá tốt. Hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,584, cho thấy bốn nhân tố trong mô hình giải thích được 58,4% sự biến thiên của quyết định thôi học. Kiểm định ANOVA có Sig. = 0,000 (
Bảng 4: Kết quả đánh giá mức độ phù hợp của mô hình
| Chỉ tiêu | Giá trị |
| R | 0,768 |
| R² | 0,590 |
| Adjusted R² | 0,584 |
| Durbin-Watson | 1,864 |
| Sig. ANOVA | 0,000 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát
Kiểm định đa cộng tuyến
Để đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến, nghiên cứu sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF). Kết quả cho thấy tất cả các biến độc lập đều có hệ số VIF nhỏ hơn 5, chứng tỏ hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra và các biến độc lập bảo đảm tính phân biệt trong mô hình hồi quy.
Kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết
Kết quả hồi quy chuẩn hóa được trình bày tại Bảng 5.
Bảng 5: Kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết
| Nhân tố | Beta chuẩn hóa | Sig. | Kết luận |
| Yếu tố cá nhân | 0,371 | 0,000 | Chấp nhận H1 |
| Yếu tố gia đình | 0,298 | 0,000 | Chấp nhận H2 |
| Yếu tố nhà trường | 0,214 | 0,001 | Chấp nhận H3 |
| Yếu tố xã hội | 0,167 | 0,012 | Chấp nhận H4 |
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát
Tất cả các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận do các hệ số hồi quy đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Phương trình hồi quy chuẩn hóa được xác định như sau:
QDTH = 0,371CN 0,298GD 0,214NT 0,167XH
Trong đó: QDTH: Quyết định thôi học; CN: Yếu tố cá nhân; GD: Yếu tố gia đình; NT: Yếu tố nhà trường; XH: Yếu tố xã hội.
Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố cá nhân tác động mạnh nhất đến quyết định thôi học của sinh viên (β = 0,371), tiếp đến là yếu tố gia đình (β = 0,298), yếu tố nhà trường (β = 0,214) và yếu tố xã hội (β = 0,167). Điều này cho thấy quyết định thôi học chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố thuộc về bản thân sinh viên giữ vai trò quan trọng nhất.
THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố gồm yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường và yếu tố xã hội đều tác động cùng chiều đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) và Lý thuyết hòa nhập sinh viên của Tinto (1993), khi cho rằng quyết định học tập của sinh viên chịu ảnh hưởng đồng thời bởi các yếu tố nội tại và môi trường bên ngoài.
Yếu tố cá nhân có tác động mạnh nhất đến quyết định thôi học của sinh viên (β = 0,371). Điều này cho thấy động lực học tập, khả năng thích nghi với môi trường đại học, áp lực tâm lý và định hướng nghề nghiệp đóng vai trò quyết định đối với việc duy trì học tập của người học. Khi sinh viên gặp khó khăn trong việc thích nghi với phương pháp học tập ở bậc đại học hoặc không xác định rõ mục tiêu nghề nghiệp, nguy cơ thôi học sẽ gia tăng đáng kể.
Yếu tố gia đình là nhân tố có mức độ ảnh hưởng lớn thứ hai (β = 0,298). Kết quả này phản ánh vai trò quan trọng của điều kiện kinh tế và sự hỗ trợ từ gia đình đối với quá trình học tập của sinh viên. Những khó khăn về tài chính, áp lực chi tiêu hoặc thiếu sự động viên từ gia đình có thể làm giảm khả năng tiếp tục theo học của sinh viên.
Bên cạnh đó, yếu tố nhà trường cũng có tác động đáng kể đến quyết định thôi học (β = 0,214). Điều này cho thấy chất lượng giảng dạy, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất và các hoạt động hỗ trợ sinh viên có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự gắn kết của người học với môi trường đại học. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Tinto (1993) về vai trò của sự hòa nhập học thuật và hòa nhập xã hội trong việc hạn chế tình trạng thôi học.
Cuối cùng, yếu tố xã hội có tác động thấp nhất nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê (β = 0,167). Điều này cho thấy ảnh hưởng từ bạn bè, mạng xã hội, xu hướng đi làm sớm hoặc nhận thức về cơ hội việc làm vẫn có khả năng tác động đến quyết định thôi học của sinh viên. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng biến động, nhiều sinh viên có xu hướng lựa chọn đi làm sớm thay vì tiếp tục hoàn thành chương trình đại học.
HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu, Trường Đại học Đại Nam cần tăng cường các hoạt động tư vấn học tập, tư vấn tâm lý và định hướng nghề nghiệp nhằm hỗ trợ sinh viên nâng cao động lực học tập và khả năng thích nghi với môi trường đại học. Đây là giải pháp quan trọng do yếu tố cá nhân được xác định là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định thôi học.
Bên cạnh đó, nhà trường cần xây dựng các chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp như học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ vay vốn hoặc tạo điều kiện việc làm bán thời gian cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tăng cường kết nối giữa nhà trường và gia đình sinh viên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát và hỗ trợ người học trong quá trình học tập.
Ngoài ra, nhà trường cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp giảng dạy và phát triển các hoạt động ngoại khóa nhằm tăng cường sự gắn kết của sinh viên với môi trường học tập. Các chương trình truyền thông về giá trị của GDĐH và định hướng nghề nghiệp cũng cần được chú trọng nhằm hạn chế những tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.
Nghiên cứu đã xác định được 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam, trong đó yếu tố cá nhân có mức độ tác động mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thôi học và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian tới.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211.
2. Bean, J. P. (1980). Dropouts and turnover: The synthesis and test of a causal model of student attrition. Research in Higher Education, 12(2), 155–187.
3. Tinto, V. (1993). Leaving College: Rethinking the Causes and Cures of Student Attrition (2nd ed.). University of Chicago Press.
4. Vũ Ngọc Thắng, Hoàng Ngọc Huyền, Vũ Thị Kim Thủy, Đặng Minh Quang (2025). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định nghỉ học của sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đại Nam. https://kinhtevadubao.vn/ca-c-nhan-to-a-nh-huo-ng-de-n-quye-t-di-nh-nghi-ho-c-cu-a-sinh-vien-khoa-qua-n-tri-kinh-doanh-truo-ng-da-i-ho-c-da-i-nam-30994.html.
| Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/5/2026; Ngày duyệt đăng: 10/6/2026 |
Các tin khác
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị
