Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh

Nghiên cứu - Trao đổi 18:24 | 11/06/2026
Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam.

ThS. Vũ Ngọc Thắng, ThS. Nguyễn Thị Giang, ThS. Hán Đức Hải,

Hoàng Ngọc Huyền, Trương Phương Mai

Trường Đại học Đại Nam

Email: [email protected]

Tóm tắt

Tình trạng sinh viên thôi học đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam. Mô hình nghiên cứu đề xuất 4 nhóm nhân tố gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường và yếu tố xã hội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ công tác quản trị đại học, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thôi học và nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Đại Nam.

Từ khóa: Thôi học, sinh viên đại học, khối ngành kinh tế - kinh doanh, Đại học Đại Nam

Abstract

Student dropout has become one of the major challenges facing higher education institutions in Viet Nam. This study aims to identify and assess the extent to which various factors influence the dropout decisions of students majoring in Economics and Business at Dai Nam University. The proposed research model consists of 4 groups of factors, namely personal factors, family factors, institutional factors, and social factors. A mixed-methods approach was employed, integrating both qualitative and quantitative research methods. The findings provide empirical evidence to support university management and decision-making processes, while also offering practical recommendations to reduce student dropout rates and enhance the quality of education at Dai Nam University.

Keywords: Student dropout, university students, economics and business disciplines, Dai Nam University

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam đang chuyển mạnh sang cơ chế tự chủ và cạnh tranh, việc duy trì người học trở thành một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở đào tạo. Bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học, các trường đại học còn phải đối mặt với thách thức gia tăng tỷ lệ sinh viên bỏ học giữa chừng. Thôi học không chỉ gây lãng phí tài nguyên giáo dục, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội nghề nghiệp của sinh viên cũng như uy tín và chất lượng đào tạo của nhà trường (Vũ Ngọc Thắng và cộng sự, 2025). Đối với sinh viên, việc dừng học tập đồng nghĩa với việc mất đi cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn và khả năng cạnh tranh nghề nghiệp trong tương lai. Đối với nhà trường, tỷ lệ thôi học cao ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô đào tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và uy tín của cơ sở giáo dục.

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng quyết định thôi học chịu ảnh hưởng đồng thời bởi nhiều nhóm yếu tố khác nhau như đặc điểm cá nhân, điều kiện gia đình, chất lượng môi trường học tập và các tác động từ xã hội (Bean, 1980; Tinto, 1993).

Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu khảo sát sinh viên đang theo học, trong khi nhóm sinh viên đã thôi học – những người trực tiếp đưa ra quyết định – vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ.

Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu đó, bài viết tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách duy trì người học và nâng cao chất lượng đào tạo.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Lý thuyết hòa nhập sinh viên của Tinto (1993).

Theo Ajzen (1991), quyết định của cá nhân được hình thành từ ý định hành vi, chịu ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong GDĐH, quyết định thôi học là kết quả của quá trình sinh viên đánh giá lợi ích và chi phí của việc tiếp tục học tập.

Bên cạnh đó, Tinto (1993) cho rằng mức độ hòa nhập học thuật và xã hội có vai trò quan trọng đối với khả năng duy trì học tập của sinh viên; những sinh viên thiếu gắn kết với môi trường đại học thường có nguy cơ thôi học cao hơn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp định tính và định lượng, phương pháp định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu sinh viên và giảng viên nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thôi học của sinh viên và hoàn thiện thang đo. Trên cơ sở đó, phương pháp định lượng được triển khai bằng khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức đối với sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam.

Dữ liệu được thu thập từ tháng 8/2025 đến tháng 4/2026 với 434 phiếu hợp lệ trên tổng số 520 phiếu phát ra. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 26.0 thông qua các kỹ thuật: Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính đa biến, Independent Sample T-test và ANOVA.

MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu đề xuất tại Hình 1, thể hiện 4 biến độc lập tác động trực tiếp đến 1 biến phụ thuộc. Các mối quan hệ được kiểm định thông qua phân tích định lượng (hồi quy) tại Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định độ tin cậy của thang đo

Kết quả cho thấy tất cả các thang đo đều có Cronbach's Alpha > 0,7 và hệ số tương quan biến – tổng > 0,3 (Bảng 1), khẳng định độ tin cậy và tính nhất quán nội tại của các thang đo. Không có biến quan sát nào bị loại, do đó toàn bộ các biến được giữ lại để thực hiện phân tích EFA.

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha

Thang đo

Số biến quan sát

Cronbach's Alpha

Corrected Item – Total Correlation nhỏ nhất

Yếu tố cá nhân

4

0,842

0,617

Yếu tố gia đình

4

0,816

0,582

Yếu tố nhà trường

4

0,874

0,641

Yếu tố xã hội

4

0,801

0,553

Quyết định thôi học

4

0,857

0,628

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Nghiên cứu tiến hành EFA (Bảng 2), kết quả cho thấy KMO = 0,891 (>0,5), Bartlett có Sig. = 0,000 ( 0,5 và không có tải chéo đáng kể, cho thấy thang đo đạt giá trị hội tụ và phân biệt tốt.

Bảng 2: Kết quả kiểm định EFA

Chỉ tiêu

Giá trị

KMO

0,891

Bartlett's Test (Sig.)

0,000

Eigenvalue nhỏ nhất

1,247

Tổng phương sai trích (%)

67,284

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Phân tích tương quan Pearson

Kết quả tương quan Pearson cho thấy tất cả các nhân tố độc lập đều tương quan cùng chiều với quyết định thôi học và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Trong đó, yếu tố cá nhân có mức tương quan cao nhất (r = 0,648), tiếp đến là gia đình (r = 0,591), nhà trường (r = 0,516) và xã hội (r = 0,472). Điều này cho thấy các yếu tố thuộc về bản thân sinh viên đóng vai trò quan trọng nhất đối với quyết định thôi học (Bảng 3).

Bảng 3: Kết quả phân tích tương quan Pearson

Nhân tố

Hệ số tương quan (r)

Sig.

Yếu tố cá nhân

0,648

0,000

Yếu tố gia đình

0,591

0,000

Yếu tố nhà trường

0,516

0,000

Yếu tố xã hội

0,472

0,000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Hồi quy tuyến tính đa biến

Kết quả hồi quy tại Bảng 4 cho thấy mô hình nghiên cứu có mức độ phù hợp khá tốt. Hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,584, cho thấy bốn nhân tố trong mô hình giải thích được 58,4% sự biến thiên của quyết định thôi học. Kiểm định ANOVA có Sig. = 0,000 (

Bảng 4: Kết quả đánh giá mức độ phù hợp của mô hình

Chỉ tiêu

Giá trị

R

0,768

R²

0,590

Adjusted R²

0,584

Durbin-Watson

1,864

Sig. ANOVA

0,000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Kiểm định đa cộng tuyến

Để đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến, nghiên cứu sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF). Kết quả cho thấy tất cả các biến độc lập đều có hệ số VIF nhỏ hơn 5, chứng tỏ hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra và các biến độc lập bảo đảm tính phân biệt trong mô hình hồi quy.

Kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết

Kết quả hồi quy chuẩn hóa được trình bày tại Bảng 5.

Bảng 5: Kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết

Nhân tố

Beta chuẩn hóa

Sig.

Kết luận

Yếu tố cá nhân

0,371

0,000

Chấp nhận H1

Yếu tố gia đình

0,298

0,000

Chấp nhận H2

Yếu tố nhà trường

0,214

0,001

Chấp nhận H3

Yếu tố xã hội

0,167

0,012

Chấp nhận H4

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát

Tất cả các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận do các hệ số hồi quy đều mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Phương trình hồi quy chuẩn hóa được xác định như sau:

QDTH = 0,371CN 0,298GD 0,214NT 0,167XH

Trong đó: QDTH: Quyết định thôi học; CN: Yếu tố cá nhân; GD: Yếu tố gia đình; NT: Yếu tố nhà trường; XH: Yếu tố xã hội.

Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố cá nhân tác động mạnh nhất đến quyết định thôi học của sinh viên (β = 0,371), tiếp đến là yếu tố gia đình (β = 0,298), yếu tố nhà trường (β = 0,214) và yếu tố xã hội (β = 0,167). Điều này cho thấy quyết định thôi học chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố thuộc về bản thân sinh viên giữ vai trò quan trọng nhất.

THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố gồm yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường và yếu tố xã hội đều tác động cùng chiều đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) và Lý thuyết hòa nhập sinh viên của Tinto (1993), khi cho rằng quyết định học tập của sinh viên chịu ảnh hưởng đồng thời bởi các yếu tố nội tại và môi trường bên ngoài.

Yếu tố cá nhân có tác động mạnh nhất đến quyết định thôi học của sinh viên (β = 0,371). Điều này cho thấy động lực học tập, khả năng thích nghi với môi trường đại học, áp lực tâm lý và định hướng nghề nghiệp đóng vai trò quyết định đối với việc duy trì học tập của người học. Khi sinh viên gặp khó khăn trong việc thích nghi với phương pháp học tập ở bậc đại học hoặc không xác định rõ mục tiêu nghề nghiệp, nguy cơ thôi học sẽ gia tăng đáng kể.

Yếu tố gia đình là nhân tố có mức độ ảnh hưởng lớn thứ hai (β = 0,298). Kết quả này phản ánh vai trò quan trọng của điều kiện kinh tế và sự hỗ trợ từ gia đình đối với quá trình học tập của sinh viên. Những khó khăn về tài chính, áp lực chi tiêu hoặc thiếu sự động viên từ gia đình có thể làm giảm khả năng tiếp tục theo học của sinh viên.

Bên cạnh đó, yếu tố nhà trường cũng có tác động đáng kể đến quyết định thôi học (β = 0,214). Điều này cho thấy chất lượng giảng dạy, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất và các hoạt động hỗ trợ sinh viên có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự gắn kết của người học với môi trường đại học. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Tinto (1993) về vai trò của sự hòa nhập học thuật và hòa nhập xã hội trong việc hạn chế tình trạng thôi học.

Cuối cùng, yếu tố xã hội có tác động thấp nhất nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê (β = 0,167). Điều này cho thấy ảnh hưởng từ bạn bè, mạng xã hội, xu hướng đi làm sớm hoặc nhận thức về cơ hội việc làm vẫn có khả năng tác động đến quyết định thôi học của sinh viên. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng biến động, nhiều sinh viên có xu hướng lựa chọn đi làm sớm thay vì tiếp tục hoàn thành chương trình đại học.

HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu, Trường Đại học Đại Nam cần tăng cường các hoạt động tư vấn học tập, tư vấn tâm lý và định hướng nghề nghiệp nhằm hỗ trợ sinh viên nâng cao động lực học tập và khả năng thích nghi với môi trường đại học. Đây là giải pháp quan trọng do yếu tố cá nhân được xác định là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định thôi học.

Bên cạnh đó, nhà trường cần xây dựng các chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp như học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ vay vốn hoặc tạo điều kiện việc làm bán thời gian cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tăng cường kết nối giữa nhà trường và gia đình sinh viên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát và hỗ trợ người học trong quá trình học tập.

Ngoài ra, nhà trường cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, cải thiện cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp giảng dạy và phát triển các hoạt động ngoại khóa nhằm tăng cường sự gắn kết của sinh viên với môi trường học tập. Các chương trình truyền thông về giá trị của GDĐH và định hướng nghề nghiệp cũng cần được chú trọng nhằm hạn chế những tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.

Nghiên cứu đã xác định được 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thôi học của sinh viên khối ngành Kinh tế - Kinh doanh tại Trường Đại học Đại Nam, trong đó yếu tố cá nhân có mức độ tác động mạnh nhất. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ thôi học và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179–211.

2. Bean, J. P. (1980). Dropouts and turnover: The synthesis and test of a causal model of student attrition. Research in Higher Education, 12(2), 155–187.

3. Tinto, V. (1993). Leaving College: Rethinking the Causes and Cures of Student Attrition (2nd ed.). University of Chicago Press.

4. Vũ Ngọc Thắng, Hoàng Ngọc Huyền, Vũ Thị Kim Thủy, Đặng Minh Quang (2025). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định nghỉ học của sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đại Nam. https://kinhtevadubao.vn/ca-c-nhan-to-a-nh-huo-ng-de-n-quye-t-di-nh-nghi-ho-c-cu-a-sinh-vien-khoa-qua-n-tri-kinh-doanh-truo-ng-da-i-ho-c-da-i-nam-30994.html.

Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/5/2026; Ngày duyệt đăng: 10/6/2026

Các tin khác

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.