Trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp

Doanh nghiệp - Kinh doanh 08:25 | 10/03/2026 Nguyễn Đức Trường
Trên cơ sở kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp theo Thông tư số 17/2019/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, nghiên cứu phân tích thực trạng mặt bằng công nghệ của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn Ninh Bình, làm rõ các “điểm nghẽn” về năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ.

ThS. Nguyễn Đức Trường, TS. Phạm Hồng Quách,

CN. Kim Thị Hồng Cúc, CN. Hoàng Văn Cường

Viện Đánh giá Khoa học, Cục Thông tin Thống kê (Bộ Khoa học và Công nghệ)

TS. Trần Thị Thanh Xuân (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trên cơ sở kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp theo Thông tư số 17/2019/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, nghiên cứu phân tích thực trạng mặt bằng công nghệ của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn Ninh Bình, làm rõ các “điểm nghẽn” về năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước và xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo của tỉnh Ninh Bình phát triển năng lực công nghệ trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Trình độ công nghệ, năng lực công nghệ, công nghiệp chế biến chế tạo, doanh nghiệp, tỉnh Ninh Bình, đánh giá công nghệ

Summary

Based on the assessment of enterprises’ technological level and production technology capacity in accordance with Circular No. 17/2019/TT-BKHCN issued by the Ministry of Science and Technology, this study analyzes the current technological landscape of manufacturing and processing enterprises in Ninh Bình Province. The research aims to identify key “bottlenecks” related to enterprises’ capacity to absorb, master, and innovate technologies. On that basis, the study proposes several policy implications to support state management and the development of support programs that enhance the technological capabilities of manufacturing and processing enterprises in Ninh Binh Province in the coming period.

Keywords: Technological level, technological capability, manufacturing and processing industry, enterprises, Ninh Binh Province, technology assessment

GIỚI THIỆU

Từ ngày 1/7/2025, theo Nghị quyết của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình chính thức hợp nhất thành tỉnh mới mang tên Ninh Bình. Năm 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của Tỉnh đạt 10,65%, vượt kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; quy mô kinh tế ước đạt 342.800 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 89,19 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch rõ theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm 47,05%, dịch vụ 34,39%. Công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực; các khu, cụm công nghiệp hoạt động ổn định; nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao đi vào vận hành, góp phần gia tăng giá trị sản xuất và tạo việc làm (Trần Huy Tuấn, 2026).

Có thể thấy, doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo quyết định chủ yếu đến tốc độ tăng trưởng toàn ngành công nghiệp, đóng góp rất lớn và là động lực tăng trưởng chính, thúc đẩy GRDP, tạo việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của Ninh Bình... Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nhanh và sâu rộng hiện nay, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi vậy, việc đi sâu tìm hiểu năng lực công nghệ của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo của Ninh Bình có ý nghĩa thực tiễn, từ đó gợi mở những hàm ý phát triển công nghệ trong doanh nghiệp trong thời gian tới.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đánh giá hiện trạng trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo tại tỉnh Ninh Bình, nhóm tác giả tiến hành khảo sát dữ liệu gồm 310 doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn, thuộc 12 nhóm ngành sản xuất chủ yếu trong đầu năm 2025. Việc đánh giá được thực hiện theo khung tiêu chí và phương pháp quy định tại Thông tư số 17/2019/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về hướng dẫn đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất. Theo đó, trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp được đánh giá tổng hợp trên 5 nhóm tiêu chí: (i) Hiện trạng thiết bị - công nghệ (nhóm T); (ii) Hiệu quả khai thác công nghệ (nhóm E); (iii) Năng lực tổ chức - quản lý (nhóm O); (iv) Năng lực nghiên cứu - phát triển (nhóm R); (v) Năng lực đổi mới sáng tạo (nhóm I).

THỰC TRẠNG TRÌNH ĐỘ VÀ NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO

Kết quả đánh giá nhóm T

Hình 1: Kết quả đánh giá nhóm T theo ngành, lĩnh vực

Trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp

Nguồn: Kết quả khảo sát

Số liệu đánh giá nhóm T (Hiện trạng thiết bị, công nghệ) của 12 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Hình 1) cho thấy, mặt bằng công nghệ giữa các ngành tương đối đồng đều, với điểm nhóm T dao động từ 13,50/30 đến 17,90/30 và hệ số đồng bộ trong khoảng 0,35-0,40.

Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo khác đạt điểm nhóm T cao nhất (17,90) mặc dù hệ số chỉ ở mức 0,39, phản ánh sự tồn tại của một số doanh nghiệp có thiết bị hiện đại vượt trội nhưng chưa đồng đều toàn ngành.

Ngành Chế biến thực phẩm có hệ số cao nhất (0,40) và điểm T đứng thứ hai (17,24), cho thấy dây chuyền sản xuất chế biến thực phẩm đã đạt mức đồng bộ tốt, máy móc đầu tư ban đầu phần lớn là máy móc mới, ứng dụng tự động hóa ở một số công đoạn.

Ngược lại, ngành In, sao chép bản ghi các loại đứng cuối bảng cả về hệ số (0,350) và điểm T (13,50), phản ánh tình trạng thiết bị lạc hậu, thiếu đồng bộ. Các ngành còn lại như sản xuất giấy, cao su - nhựa, kim loại đúc sẵn, thiết bị điện… duy trì mức điểm 16,0-16,6 và hệ số ~0,39, thể hiện năng lực công nghệ trung bình nhưng chưa có đột phá.

Khoảng cách điểm T chỉ 4,4 điểm giữa ngành cao nhất và thấp nhất cho thấy không có ngành nào vượt trội hoàn toàn, song để nâng hệ số đồng bộ lên mức ≥ 0,42, cần thực hiện đồng thời cả đổi mới thiết bị, phát triển nhân lực, nâng cao quản trị và áp dụng tiêu chuẩn sản phẩm. Trong ngắn hạn, ưu tiên cải thiện ngành yếu nhất (thực phẩm) là cần thiết, đồng thời duy trì và nâng cấp thế mạnh ở ngành Trang phục và Chế biến, chế tạo khác để dẫn dắt mặt bằng công nghệ chung.

Kết quả đánh giá nhóm E

Hình 2: Kết quả đánh giá nhóm E theo ngành lĩnh vực

Trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp

Nguồn: Kết quả khảo sát

Kết quả đánh giá nhóm E (Hiệu quả khai thác công nghệ) của 12 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (Hình 2) cho thấy mức độ chênh lệch đáng kể giữa các ngành, phản ánh rõ sự khác biệt về năng lực quản trị, vận hành, và tối ưu hóa công nghệ hiện có. Điểm số nhóm E dao động từ 6,36/20 đến 8,03/20, tương ứng với khoảng cách tương đối rộng trong bối cảnh tiêu chí đánh giá tập trung vào khả năng khai thác thiết bị, tối ưu quy trình, giảm thiểu tiêu hao năng lượng và nguyên vật liệu, cũng như duy trì chất lượng sản phẩm.

Ngành Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (C22) đạt điểm số cao nhất (8,03/20), tiếp đến là Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (C23) với 7,90/20, và Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn - trừ máy móc, thiết bị (C25) với 7,75/20. Điều đó cho thấy các ngành này có quy trình sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao, ít biến động về thiết kế sản phẩm và yêu cầu kỹ thuật; tỷ lệ tự động hóa ở các công đoạn chính tương đối cao, giúp giảm phụ thuộc vào lao động thủ công; có hệ thống quản lý chất lượng và kiểm soát sản xuất tương đối chặt chẽ, đảm bảo sự ổn định về năng suất và chất lượng. Những yếu tố trên cho phép doanh nghiệp duy trì hiệu suất sử dụng thiết bị ở mức gần tối ưu, giảm thiểu thời gian dừng máy, và tối ưu chi phí vận hành. Đây là cơ sở để đạt hiệu quả khai thác công nghệ cao hơn so với mặt bằng chung.

Một số ngành như: Sản xuất trang phục (C14) (7,52); Sản xuất phương tiện vận tải khác (C30) (7,35) và Chế biến thực phẩm (C10) (7,14) nằm trong nhóm khá, với hiệu quả khai thác công nghệ ở mức trên trung bình. Các ngành này thường có đặc thù: chu kỳ sản xuất phụ thuộc nhiều vào đơn hàng và nhu cầu thị trường; thay đổi mẫu mã, thiết kế hoặc quy cách sản phẩm tương đối thường xuyên, gây khó khăn trong việc duy trì hiệu suất khai thác ổn định; dây chuyền sản xuất có một số khâu tự động hóa, nhưng vẫn cần tỷ lệ lớn lao động thủ công.

Nhóm ngành Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (C20) (7,09); Sản xuất thiết bị điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (C26) (6,77); Công nghiệp chế biến, chế tạo khác (C32) (6,80) cho thấy hiệu quả khai thác công nghệ chưa cao. Các nguyên nhân chính được chỉ ra bao gồm: tính đa dạng và phức tạp của danh mục sản phẩm, dẫn tới khó khăn trong việc tối ưu hóa quy trình cho tất cả các dòng sản phẩm; thiếu đồng bộ giữa các khâu sản xuất, bảo trì thiết bị và quản lý nguyên vật liệu; hệ thống giám sát hiệu suất (OEE) và dữ liệu sản xuất chưa được ứng dụng một cách toàn diện. Điều này dẫn đến mức độ hao phí nguyên vật liệu và năng lượng cao hơn so với các ngành dẫn đầu.

Ngành Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (C17) đạt điểm thấp nhất (6,36/20), trong khi In, sao chép bản ghi các loại (C18) đạt 6,67/20. Đây là các ngành đặc thù có mức độ tự động hóa hạn chế, phụ thuộc nhiều vào tay nghề lao động và chất lượng nguyên vật liệu đầu vào. Nguyên nhân chính là do dây chuyền sản xuất đã qua nhiều năm sử dụng, hiệu suất giảm dần do khấu hao và hao mòn tự nhiên. Bảo trì, sửa chữa mang tính phản ứng thay vì bảo trì định kỳ, dẫn đến thời gian dừng máy ngoài kế hoạch nhiều.

Kết quả đánh giá nhóm O

Hình 3: Kết quả đánh giá nhóm O theo ngành, lĩnh vực

Trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp

Nguồn: Kết quả khảo sát

Theo kết quả đánh giá Nhóm O (Năng lực tổ chức), quản lý của 12 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Tỉnh (Hình 3), điểm trung bình theo ngành, lĩnh vực dao động từ 5,91/19 đến 7,36/19, cho thấy mặt bằng năng lực tổ chức - quản lý của các ngành nhìn chung ở mức trung bình khá nhưng chưa có ngành nào đạt ngưỡng cao. Khoảng cách điểm số giữa ngành cao nhất và thấp nhất là 1,45 điểm, phản ánh sự chênh lệch tương đối hẹp, tức là không có ngành vượt trội hoàn toàn, song cũng không xuất hiện ngành yếu kém rõ rệt.

Trong đó, ngành Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (C17) dẫn đầu với 7,36 điểm, tiếp cận mức 39% so với điểm tối đa, cho thấy hệ thống tổ chức sản xuất, quản lý nhân lực, quản trị chất lượng và vận hành dây chuyền ở mức tương đối bài bản.

Kế tiếp là nhóm Sản xuất trang phục (C14: 7,17 điểm) và Chế biến thực phẩm (C10: 7,10 điểm), phản ánh sự tuân thủ quy trình và quản trị sản xuất khá tốt, đặc biệt trong các khâu điều phối nguồn lực, lập kế hoạch và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Nhóm ngành Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (C20) đạt điểm thấp nhất (5,91 điểm), cho thấy những hạn chế trong điều phối sản xuất, quản lý chuỗi cung ứng và hệ thống quản lý an toàn - môi trường.

Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo khác (C32) cũng ở mức thấp (6,20 điểm), hàm ý tính hệ thống trong quản lý và khả năng chuẩn hóa quy trình chưa cao, đặc biệt ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các ngành còn lại như: sản xuất sản phẩm điện tử (C26), sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (C23), sản phẩm từ cao su và plastic (C22), hay kim loại đúc sẵn (C25) dao động quanh mức 6,82-7,00 điểm, cho thấy năng lực tổ chức và quản lý ở mức trung bình, vẫn còn dư địa lớn để cải thiện ở các khía cạnh như ứng dụng công cụ quản trị tiên tiến (ERP, TPM), nâng cao năng lực điều hành và khả năng phối hợp liên bộ phận.

Về tổng thể, điểm số Nhóm O còn cách xa mức tối đa 19 điểm, phản ánh thực tế rằng phần lớn doanh nghiệp chưa khai thác hết tiềm năng tổ chức - quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh. Điều này có thể bắt nguồn từ việc thiếu đội ngũ quản lý cấp trung được đào tạo bài bản, chưa áp dụng sâu công nghệ số trong quản trị, và văn hóa cải tiến liên tục chưa được hình thành vững chắc.

Kết quả đánh giá nhóm R

Hình 4: Kết quả đánh giá nhóm R theo ngành lĩnh vực

Trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp

Nguồn: Kết quả khảo sát

Kết quả đánh giá Nhóm R (Năng lực nghiên cứu và phát triển - R&D) của 12 ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Hình 4) cho thấy mặt bằng điểm số nhìn chung ở mức trung bình thấp, dao động từ 5,17/17 đến 6,23/17, phản ánh thực trạng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp trên địa bàn còn hạn chế. Sự chênh lệch giữa ngành cao nhất và thấp nhất chỉ ở mức 1,06 điểm, cho thấy sự đồng đều tương đối, nhưng cũng chỉ ra rằng, không có ngành nào thực sự vượt trội về nghiên cứu và phát triển.

Cụ thể, các ngành Sản xuất thiết bị điện (C27) và Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (C26) đạt điểm cao nhất (6,23/17), phản ánh mức độ quan tâm và đầu tư nhất định cho hoạt động R&D, đặc biệt trong việc cải tiến sản phẩm và ứng dụng công nghệ mới. Ngành Sản xuất phương tiện vận tải khác (C30) và Chế biến thực phẩm (C10) cũng có điểm số tương đối tốt (trên 6,1 điểm), cho thấy những lĩnh vực này có sự thúc đẩy đổi mới để đáp ứng yêu cầu thị trường và tiêu chuẩn kỹ thuật.

Ngược lại, ngành In, sao chép bản ghi các loại (C18) đạt điểm thấp nhất (5,17/17), phản ánh hạn chế về đầu tư R&D, ít hoạt động sáng tạo sản phẩm hoặc quy trình mới. Các ngành Sản xuất trang phục (C14) và Sản xuất giấy (C17) cũng nằm ở nhóm thấp, điều này có thể bắt nguồn từ tính chất sản xuất truyền thống, ít biến động về công nghệ và ít áp lực đổi mới sản phẩm.

Kết quả này cho thấy, phần lớn doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang tập trung nhiều hơn vào khai thác công nghệ hiện có (E) và năng lực tổ chức quản lý (O) hơn là đầu tư mạnh cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều này tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu về công nghệ nếu không có chiến lược R&D rõ ràng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế.

Kết quả đánh giá nhóm I

Hình 5: Kết quả đánh giá nhóm I theo ngành lĩnh vực

Trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo Ninh Bình: Thực trạng và giải pháp

Nguồn: Kết quả khảo sát

Kết quả đánh giá Nhóm I (Năng lực đổi mới sáng tạo) của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (Hình 5) cho thấy, mặt bằng điểm số tương đối đồng đều, dao động từ 4,06 đến 4,50 trên thang tối đa 14 điểm, phản ánh mức năng lực chung ở ngưỡng thấp - trung bình.

Ngành Sản xuất thiết bị điện (C27) đạt mức cao nhất (4,50), cho thấy sự chú trọng hơn đến cải tiến công nghệ và phát triển sản phẩm, trong khi các ngành Sản xuất giấy (C17), Công nghiệp chế biến, chế tạo khác (C32) và Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (C23) cũng đạt điểm khá nhờ gia tăng áp dụng công nghệ mới và đa dạng hóa sản phẩm.

Ở nhóm trung bình, các ngành như Sản xuất hóa chất (C20), Sản xuất sản phẩm điện tử (C26) hay Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (C22) chủ yếu thực hiện cải tiến kỹ thuật hoặc tối ưu hóa quy trình, ít có đổi mới mang tính đột phá.

Một số ngành như: Sản xuất phương tiện vận tải khác (C30), Sản xuất trang phục (C14), In, sao chép bản ghi (C18) và Chế biến thực phẩm (C10) có điểm thấp hơn, phản ánh sự hạn chế cả về nguồn lực nghiên cứu phát triển, quỹ đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp nhận công nghệ mới.

Khoảng cách điểm số hẹp giữa các ngành cho thấy đổi mới sáng tạo chưa thực sự là ưu tiên chiến lược của phần lớn doanh nghiệp, ngoại trừ một số ngành chịu áp lực cạnh tranh cao và yêu cầu hội nhập quốc tế, vốn buộc phải đổi mới để duy trì lợi thế.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO TỈNH NINH BÌNH

Kết luận

Kết quả khảo sát cho thấy, trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhìn chung ở mức trung bình - thấp. Điểm số bình quân của các nhóm tiêu chí chỉ đạt khoảng 40%-50% mức tối đa, phản ánh mặt bằng công nghệ chưa cao và còn nhiều dư địa cải thiện.

Nhóm tiêu chí về hiện trạng thiết bị - công nghệ (T) đạt điểm cao nhất trong các nhóm, song chủ yếu tập trung ở mức trung bình. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị trong những năm gần đây, song phần lớn là đầu tư thay thế hoặc nâng cấp cục bộ; mức độ tự động hóa và tích hợp sản xuất còn hạn chế. Đáng chú ý, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu sử dụng công nghệ ở mức trung bình, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa công nghệ rõ nét đối với khu vực doanh nghiệp trong nước.

Nhóm hiệu quả khai thác công nghệ (E) là điểm yếu nổi bật. Năng suất lao động, hiệu suất thiết bị và khả năng khai thác tối đa công suất dây chuyền còn thấp so với tiềm năng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật, năng lực bảo trì - bảo dưỡng và đặc biệt là khả năng tiếp nhận, hấp thụ và làm chủ công nghệ. Nhiều doanh nghiệp mới dừng ở mức vận hành theo hướng dẫn, chưa đủ năng lực phân tích, cải tiến và tối ưu hóa công nghệ.

Ở nhóm tổ chức - quản lý (O), phần lớn doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống quản lý công nghệ bài bản; việc áp dụng các công cụ quản lý tiên tiến, tiêu chuẩn chất lượng và quản lý hiệu suất thiết bị còn hạn chế. Đầu tư cho đào tạo, huấn luyện nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu đổi mới công nghệ.

Hai nhóm yếu nhất là nghiên cứu và phát triển (R) và đổi mới sáng tạo (I). Đa số doanh nghiệp không có bộ phận R&D chuyên trách; chi cho R&D thường dưới 0,5% doanh thu; rất ít doanh nghiệp tạo ra sản phẩm hoặc công nghệ mới mang tính đột phá. Hoạt động đổi mới hiện nay chủ yếu dừng ở cải tiến nhỏ, mang tính tình thế hơn là chiến lược dài hạn.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy, doanh nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn Tỉnh mới chủ yếu vận hành công nghệ, trong khi 3 năng lực cốt lõi là hấp thụ - làm chủ - đổi mới công nghệ còn yếu. Đây chính là “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp.

Một số hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tỉnh Ninh Bình đang triển khai các định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/Twngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, kết quả nghiên cứu gợi mở một số hàm ý chính sách sau:

Thứ nhất, cần chuyển trọng tâm chính sách từ hỗ trợ đầu tư thiết bị đơn thuần sang nâng cao năng lực khai thác và hấp thụ công nghệ, thông qua đào tạo nhân lực kỹ thuật, hỗ trợ dịch vụ tư vấn công nghệ và quản lý công nghệ cho doanh nghiệp.

Thứ hai, cần từng bước hình thành hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới công nghệ ở cấp tỉnh, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học - công nghệ, đặc biệt trong các ngành chế biến, chế tạo chủ lực.

Thứ ba, kết quả đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất cần được sử dụng như công cụ quản lý nhà nước thường xuyên, làm căn cứ thiết kế các chương trình, đề án hỗ trợ doanh nghiệp phát triển khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

Tài liệu tham khảo:

1. Bùi Quang Hùng, Nguyễn Thị Hồng Nhâm (2025). Thực trạng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp tỉnh Ninh Bình. https://kinhtevadubao.vn/thuc-trang-hoat-dong-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-cua-cac-doanh-nghiep-tinh-ninh-binh-31897.html

2. Cục Thông tin Thống kê - Viện Đánh giá Khoa học (2025). Báo cáo đề tài: Thực trạng trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp tỉnh Hà Nam.

3. Cục Thông tin Thống kê - Viện Đánh giá Khoa học (2025). Triển khai hoạt động đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tại Việt Nam.

4. Nguyễn Đức Trường, Trần T.Thanh Xuân, Phạm Hồng Quách, Kim T.Hồng Cúc, Hoàng Văn Cường (2025). Hiện trạng trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo khu vực Hà Nam (cũ). https://baoninhbinh.org.vn/hien-trang-trinh-do-va-nang-luc-cong-nghe-cua-doanh-nghiep-nganh-che-bien-che-t-260109111330023.html

5. Trần Huy Tuấn (2026). Kiên định mục tiêu tăng trưởng “2 con số", phấn đấu đưa Ninh Bình phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng với niềm tin của Đảng, kỳ vọng của Nhân dân. https://baoninhbinh.org.vn/kien-dinh-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-phan-dau-dua-ninh-binh-phat-trien-nhanh-251231160105054.html

Ngày nhận bài: 24/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/2/2026; Ngày duyệt đăng: 9/3/2026

Các tin khác

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Quản trị phát triển kỹ năng số nhằm nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Dệt may là ngành xuất khẩu và tạo việc làm quan trọng của Việt Nam, nhưng lợi thế dựa vào lao động dồi dào, gia công và chi phí thấp đang chịu sức ép từ tăng tiền lương, giao hàng nhanh, truy xuất nguồn gốc, sản xuất xanh và tự động hóa.
Phát triển năng lực số của người lao động tại doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh

Phát triển năng lực số của người lao động tại doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh

Trong ngành sản xuất linh kiện điện tử, kỹ năng số của người lao động đang trở thành nền tảng quan trọng để doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh hiệu quả.
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ mô hình bảng động tại các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ mô hình bảng động tại các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE

Hiệu quả tài chính là vấn đề trọng tâm trong tài chính doanh nghiệp. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) phản ánh lượng tiền thực tế tạo ra từ hoạt động cốt lõi, khác với lợi nhuận kế toán ghi nhận trên cơ sở dồn tích.
Tác động của dự trữ tiền mặt đến đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Tác động của dự trữ tiền mặt đến đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của dự trữ tiền mặt đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2003-2022. Kết quả cung cấp bằng chứng thực nghiệm về quyết định tài trợ đầu tư, doanh nghiệp tối ưu cấu trúc tài sản và nâng cao năng lực đầu tư tại doanh nghiệp.
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) được Nhà nước giao phó trọng trách quản lý một quỹ đất có quy mô khổng lồ, trải dài qua hàng chục tỉnh, thành phố và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển hàng thế kỷ của ngành đường sắt.
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Bài viết xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, qua đó đóng góp cơ sở lý luận và định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai.
Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị

Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP. Hà Nội theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị

Sau 40 năm mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài, yêu cầu đối với khu vực FDI ở Việt Nam đã chuyển từ gia tăng số lượng dự án, quy mô vốn sang nâng cao chất lượng và khả năng chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành năng lực sản xuất, công nghệ, năng suất và sức cạnh tranh dài hạn.
Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Ảnh hưởng của biến động dòng tiền đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Quyết định về cấu trúc vốn phản ánh sự lựa chọn của doanh nghiệp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh và các cơ hội tăng trưởng. Việc sử dụng nợ tạo ra lợi ích từ lá chắn thuế và có thể góp phần hạn chế chi phí đại diện