Yếu tố ảnh hưởng quyết định mua đồ trang trí nội thất có nguồn gốc xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 16:42 | 10/06/2026
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với hệ sinh thái toàn cầu, tiêu dùng xanh đã trở thành xu hướng chủ đạo của thế kỷ XXI

Lê Nguyễn Thành Đồng; E-mail: [email protected]

Bùi Ngọc Tú Thư, Huỳnh Lâm Hiểu Nghi

Khoa Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Trong bối cảnh rủi ro sức khỏe từ vật liệu nội thất, tiêu dùng bền vững đã trở thành yêu cầu cấp thiết tại các đô thị lớn. Nghiên cứu này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn đồ trang trí nội thất có nguồn gốc xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu gồm 5 nhân tố độc lập: nhận thức môi trường (EA), cảm nhận về giá (PP), cảm nhận về chất lượng (PQ), ảnh hưởng xã hội (SI) và niềm tin (TR). Phương pháp định lượng được thực hiện thông qua khảo sát thuận tiện với 210 người tiêu dùng, dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SmartPLS. Kết quả cho thấy toàn bộ 06 giả thuyết đều được chấp nhận. Cụ thể, các nhân tố độc lập đều tác động tích cực đến ý định mua, trong đó ảnh hưởng xã hội (β = 0,300) và niềm tin (β = 0,261) là hai nhân tố có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất. Ý định mua đóng vai trò trung gian then chốt và tác động trực tiếp mạnh mẽ đến quyết định mua thực tế (β = 0,498). Mô hình đạt giá trị dự báo mạnh với chỉ số Q2 lần lượt là 0,443 (ý định) và 0,353 (quyết định). Từ những phát hiện này, nghiên cứu đề xuất các doanh nghiệp nội thất cần xây dựng hệ sinh thái truyền thông dựa trên “bằng chứng xã hội” và minh bạch hóa các chứng nhận xanh để củng cố lòng tin khách hàng. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng để thúc đẩy lối sống xanh và tiêu dùng bền vững tại Việt Nam.

Từ khóa: Nội thất xanh, hành vi tiêu dùng, ý định mua, quyết định mua, PLS-SEM.

Abstract

Amidst escalating health risks associated with interior materials, sustainable consumption has emerged as an imperative in major urban centers. This study aims to identify the determinants of consumers' decisions regarding the selection of green interior decoration products in Ho Chi Minh City. The research model incorporates five independent variables: environmental awareness (EA), perceived price (PP), perceived quality (PQ), social influence (SI), and trust (TR). Utilizing a quantitative approach, data were gathered from a convenience sample of 210 consumers and analyzed through the Partial Least Squares Structural Equation Modeling technique using SmartPLS software. The empirical results support all six research hypotheses. Specifically, all independent factors significantly and positively influence purchase intention, with social influence (β = 0.300) and trust (β = 0.261) emerging as the most substantial predictors. Furthermore, purchase intention serves as a critical mediator and exerts a strong direct influence on the actual purchase decision (β = 0.498). The model demonstrates robust predictive relevance, yielding Q2 values of 0.443 for intention and 0.353 for the purchase decision. Grounded in these insights, the study recommends that furniture enterprises cultivate communication ecosystems based on “social proof” and enhance the transparency of eco-certifications to solidify consumer trust. These findings provide an essential practical framework for advancing green lifestyles and sustainable consumption in Vietnam.

Keywords: Green furniture, consumer behavior, purchase intention, purchase decision, PLS-SEM.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với hệ sinh thái toàn cầu, tiêu dùng xanh đã trở thành xu hướng chủ đạo của thế kỷ XXI (Lorek & Funchs, 2013). Tại Việt Nam, mục tiêu này đã được cụ thể hóa thông qua Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, nhấn mạnh việc “xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững” như một phương thức quan trọng để giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới nền kinh tế trung hòa các-bon (Thủ tướng Chính phủ, 2021).

Tuy nhiên, sự gia tăng của lối sống đô thị hiện đại cũng đi kèm với những lo ngại về ô nhiễm không khí trong nhà. Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng vật liệu nội thất kém chất lượng là nguồn phát thải chính của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và Formaldehyde – những tác nhân gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở phổi, gan và đã được xác nhận là chất gây ung thư (Trần Thị Minh Nguyệt, 2024). Trước những rủi ro này, người tiêu dùng đang có xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang các sản phẩm có nguồn gốc xanh, ưu tiên vật liệu tự nhiên hoặc đạt các chứng chỉ bền vững để bảo vệ sức khỏe (Trần Xuân Toàn, 2023). Thực tế cho thấy, khoảng 72% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn cho các sản phẩm cam kết thân thiện với môi trường (Shubham, 2025).

Thành phố Hồ Chí Minh, với vị thế là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước và là nơi có mức lương bình quân dẫn đầu toàn quốc (Trần Thị Hương, 2020), đang chứng kiến nhu cầu tiêu dùng nội thất xanh tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Mặc dù ý thức về sức khỏe và môi trường của người dân đang tăng cao, nhưng thực tế chỉ có khoảng 45% người tiêu dùng có khả năng nhận diện chính xác các vật liệu thân thiện với môi trường, tạo ra một rào cản kiến thức đáng kể. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, bài báo này tập trung nghiên cứu nhằm: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn đồ trang trí nội thất có nguồn gốc xanh của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp căn cứ khoa học giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược marketing xanh hiệu quả và hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việc thúc đẩy lối sống bền vững tại đô thị.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu sử dụng Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) làm khung lý thuyết chủ đạo. Ajzen (1991) định nghĩa ý định hành vi là kết quả của sự tương tác giữa ba nhân tố: Thái độ đối với hành vi, Chuẩn mực chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Trong nghiên cứu này, TPB được hiểu là cơ sở để kết nối các yếu tố nhận thức, xã hội với ý định và quyết định mua nội thất xanh của khách hàng.

Nhận thức môi trường (environmental awareness) là mức độ hiểu biết của cá nhân về các vấn đề sinh thái và sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường thông qua các hành vi cụ thể (Mostafa, 2007). Cùng quan điểm trên, Tass và cộng sự (2025) cho rằng đây là sự thừa nhận của người tiêu dùng về các tác động tiêu cực của hoạt động tiêu dùng đối với hệ sinh thái và trách nhiệm cá nhân trong việc giảm thiểu các tác động đó.

Cảm nhận về giá (perceived price) là những gì người tiêu dùng phải từ bỏ hoặc đánh đổi (bao gồm tiền bạc, thời gian, công sức) để có được một sản phẩm (Zeithaml,1988). Ngoài ra, Monroe (1973) nhìn nhận giá cả như một “tín hiệu” đại diện cho chất lượng và vị thế xã hội của sản phẩm trong tâm trí khách hàng.

Cảm nhận về chất lượng (perceived quality) là sự đánh giá tổng thể của khách hàng về tính ưu việt của một sản phẩm so với mục đích dự định và các lựa chọn thay thế (Aaker, 1991). Ladhari và cộng sự (2011) cụ thể hóa chất lượng cảm nhận dựa trên các thuộc tính chức năng và hiệu suất thực tế mà người dùng trải nghiệm.

Ảnh hưởng xã hội (social influence) phản ánh áp lực xã hội cảm nhận được từ những người quan trọng (gia đình, bạn bè) đối với việc thực hiện một hành vi (Ajzen,1991). Nhận định trên đã bổ sung khái niệm do Kelman (1958) đề xuất với quan điểm ảnh hưởng xã hội là quá trình thay đổi hành vi của cá nhân để hòa nhập hoặc được thừa nhận bởi một nhóm tham chiếu.

Niềm tin (trust) là sự sẵn lòng dựa vào một đối tác trao đổi mà cá nhân có sự tin tưởng vào tính chính trực và tin cậy của họ (Morgan và Hunt, 1994). Dựa trên cơ sở này, Chen (2010) phát triển khái niệm “Niềm tin xanh”, là mức độ sẵn lòng tin tưởng vào các cam kết môi trường và tính xác thực của các nhãn sinh thái trên sản phẩm.

Ý định mua (purchase intention) là xác suất tự báo cáo của một cá nhân về khả năng sẽ thực hiện hành vi mua một sản phẩm nhất định trong tương lai (Morwitz, 2014). Septiani (2024) mô tả ý định mua là trạng thái sẵn sàng về mặt tâm lý và cảm xúc, thúc đẩy con người nỗ lực để đạt được sản phẩm mình mong muốn.

Quyết định mua (purchase decision) là hành động lựa chọn một phương án duy nhất từ hai hoặc nhiều lựa chọn thay thế sau một quá trình so sánh kỹ lưỡng. Mihajlovic và cộng sự (2025) cho rằng quyết định mua là kết quả của quá trình giải quyết xung đột trong tâm trí giữa các lý do nên mua và không nên mua một sản phẩm.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở tổng lược những công trình nghiên cứu trước đó về mối quan hệ của các nhân tố (Zeithaml,1988; Chen, 2010; Ladhari và cộng sự, 2011; Morwitz, 2014; Adzkia và cộng sự, 2021; Mihajlovic và cộng sự, 2025), tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua đồ nội thất có nguồn gốc xanh như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu

Yếu tố ảnh hưởng quyết định mua đồ trang trí nội thất có nguồn gốc xanh của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

Từ mô hình nghiên cứu đề xuất, các giả thuyết được đưa ra như sau:

H1: Nhận thức môi trường có tác động tích cực (+) đến ý định mua nội thất xanh.

H2: Cảm nhận về giá có tác động tích cực (+) đến ý định mua nội thất xanh.

H3: Cảm nhận về chất lượng có tác động tích cực (+) đến ý định mua nội thất xanh.

H4: Niềm tin có tác động tích cực (+) đến ý định mua nội thất xanh.

H5: Ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực (+) đến ý định mua nội thất xanh.

H6: Ý định mua có tác động tích cực (+) đến quyết định mua nội thất xanh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua các mạng lưới xã hội và các cộng đồng trực tuyến, phù hợp với giới hạn về thời gian và ngân sách của nghiên cứu (Panopoulos và cộng sự, 2023).

Đối tượng khảo sát được xác định cụ thể là những người tiêu dùng hiện đang sinh sống, làm việc tại TP. Hồ Chí Minh và đã từng có kinh nghiệm hoặc nhu cầu mua sắm các sản phẩm trang trí nội thất trong giai đoạn từ tháng 04/2026. Phần mềm SmartPLS được sử dụng để kiểm định kết quả nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Độ tuổi tiến hành khảo sát trong nghiên cứu là từ 18 tuổi trở lên. Mẫu nghiên cứu có đặc điểm: 124 nam (59%), 86 nữ (41%); thu nhập bình quân hàng tháng dưới 15 triệu đồng (65%), từ 15 triệu đến dưới 45 triệu đồng (33%), trên 45 triệu đồng (3%); lần mua đồ nội thất gần nhất dưới 6 tháng (57%), từ 6 tháng trở lên (43%); đã từng mua đồ nội thất có nguồn gốc xanh (44%), chưa mua và có ý định mua (49%), chưa có ý định mua (7%).

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để đánh giá độ tin cậy của thang đo. Kết quả Bảng 1 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha trong mức 0.786-0.907 và > 0.7, do đó, khẳng định tất cả các thang đo bảo đảm độ tin cậy. Giá trị AVE có giá trị từ 0.610-0.725, nên có thể xác nhận rằng thang đo hội tụ.

Bảng 1: Kết quả Cronbach’s Alpha, CR, AVE

Nhân tố

Số biến quan sát

Cronbach’s Alpha

CR

AVE

Nhận thức môi trường (EA)

5

0.907

0.930

0.725

Cảm nhận về giá (PP)

5

0.890

0.918

0.691

Cảm nhận về chất lượng (PQ)

5

0.904

0.928

0.721

Niềm tin (TR)

5

0.888

0.917

0.689

Ảnh hưởng xã hội (SI)

5

0.897

0.923

0.705

Ý định mua (PI)

5

0.865

0.903

0.650

Quyết định mua (PD)

4

0.786

0.862

0.610

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

Kiểm định đa cộng tuyến

Kết quả phân tích cho thấy các giá trị VIF dao động trong khoảng từ 1.935 đến 2.748. Tất cả các giá trị VIF đều nhỏ hơn ngưỡng 3,0 và thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 5.0 theo khuyến nghị của Hair và các cộng sự (2019). Điều này cho thấy không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu.

Kiểm định mô hình về mức độ phù hợp

Trong nghiên cứu này, khả năng dự đoán của mô hình được đánh giá thông qua chỉ số Q² bằng phương pháp blindfolding (Stone, 1974; Geisser, 1975). Đối với nhân tố phụ thuộc là quyết định mua nội thất xanh (PD), giá trị Q² đạt 0,353, cũng vượt ngưỡng 0,35, cho thấy mô hình có năng lực dự báo mạnh đối với quyết định lựa chọn thực tế của người tiêu dùng.

Kết quả kiểm định

Kết quả Bảng 2 cho thấy, các giả thuyết đều ảnh hưởng thuận chiều và đạt ý nghĩa thống kê, nên chúng đều được chấp nhận. Cụ thể, ý định mua chịu tác động cùng chiều bởi các yếu tố nhận thức về môi trường (β = 0.251, p < 0.05), cảm nhận về giá (β = 0.209, p < 0.05), cảm nhận về chất lượng (β = 0.246, p < 0.05), niềm tin (β = 0.261, p < 0.05), ảnh hưởng xã hội (β = 0.300, p < 0.05) nên các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5 được chấp nhận. Riêng quyết định mua chịu sự tác động mạnh mẽ từ ý định mua (β = 0.498, p < 0.05), do đó giả thuyết H6 cũng được chấp nhận.

Bảng 2: Kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Hệ số tác động gốc (Mẫu gốc)

Giá trị trung bình mẫu

Độ lệch chuẩn

Giá trị thống kê T

Giá trị P (Mức ý nghĩa)

H1: EA -> PI

0.251

0.256

0.059

4.233

0.000

H2: PP -> PI

0.209

0.212

0.059

3.533

0.000

H3: PQ -> PI

0.246

0.247

0.057

4.328

0.000

H4: TR -> PI

0.261

0.262

0.057

4.603

0.000

H5: SI -> PI

0.300

0.304

0.057

5.253

0.000

H6: PI -> PD

0.498

0.503

0.044

11.381

0.000

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, quyết định mua nội thất xanh chịu sự tác động mạnh mẽ từ ý định mua và nhân tố này bị sự tác động cùng chiều bởi nhận thức về môi trường, cảm nhận về giá, cảm nhận về chất lượng, niềm tin, và ảnh hưởng xã hội. Kết quả này cũng phù hợp với phần lớn các nghiên cứu trước đây (Febrianti và Hasan, 2022); Tass và cộng sự, 2025).

Dựa trên kết quả thực nghiệm với mức độ tác động mạnh nhất từ ảnh hưởng xã hội (β = 0,300) và Niềm tin (β = 0,261), nghiên cứu đề xuất một lộ trình chiến lược toàn diện giúp doanh nghiệp nội thất xanh chinh phục thị trường TP. Hồ Chí Minh:

Chiến lược “Bảo chứng cộng đồng”

Doanh nghiệp cần có chiến lược tận dụng sự ảnh hưởng xã hội vì nhân tố này có tác động mạnh nhất đến ý định mua, doanh nghiệp không nên chỉ quảng cáo một chiều mà cần xây dựng hệ sinh thái truyền thông dựa trên sự lan tỏa bằng cách xây dựng cộng đồng “sống xanh” thông qua thiết lập các nhóm khách hàng thân thiết trên mạng xã hội để họ chia sẻ hình ảnh thực tế về không gian nội thất xanh tại căn hộ/nhà phố ở TP. Hồ Chí Minh. Việc thấy ”người thật, việc thật" trang trí nhà cửa sẽ tạo áp lực chuẩn mực xã hội tích cực, thúc đẩy người khác làm theo

Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể hợp tác với các “KOLs xanh” và kiến trúc sư có tầm ảnh hưởng để định hình và thúc đẩy phong cách sống xanh cho khách hàng và cộng đồng thông qua các chia sẻ hoặc các chương trình giới thiệu căn hộ/nhà sử dụng nội thất xanh.

Chiến lược “Minh bạch hóa niềm tin”

Niềm tin là nhân tố quan trọng thứ hai tác động đến ý định mua của người tiêu dùng. Trong bối cảnh người tiêu dùng TP. Hồ Chí Minh ngày càng nhận thức cao hơn về lợi ích của nội thất xanh nhưng lại hoài nghi về hiện tượng “tẩy xanh” hoặc nhận định là chiêu trò marketing, doanh nghiệp cần hệ thống hoá các chứng nhận liên quan đến nội thất xanh và truyền thông giải thích ý nghĩa của các chứng nhận cũng như các mức độ của từng chứng nhận.

Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần xây dựng cơ sở dữ liệu giúp khách hàng có thể truy xuất nguồn gốc nguyên liệu chế tạo nội thất cũng như quá trình xử lý nguyên liệu từ rừng trồng bền vững đến xưởng sản xuất. Sự minh bạch này là “vũ khí” sắc bén nhất để củng cố niềm tin.

Chiến lược “Định vị vì sức khỏe”

Các yếu tố như nhận thức môi trường và cảm nhận về chất lượng là những yếu tố cũng quan trọng không kém về mức độ tác động đến ý định và quyết định mua nội thất xanh. Do đó doanh nghiệp cần gắn kết hai yếu tố này thông qua việc đẩy mạnh thông điệp “bảo vệ sức khoẻ gia đình” thay vì “bảo vệ môi trường” như trước đây. Doanh nghiệp cần tập trung vào việc nhấn mạnh vào tính an toàn, không mùi hóa chất và độ bền cơ học của vật liệu tự nhiên (tre, gỗ tái chế) để khẳng định chất lượng vượt trội.

Song song đó, doanh nghiệp nên xây dựng các không gian trải nghiệm mô phỏng không gian sống xanh với cây xanh và ánh sáng tự nhiên. Điều này giúp khách hàng cảm nhận trực tiếp chất lượng và sự khác biệt của sản phẩm trước khi ra quyết định mua.

Chiến lược “Giá trị lâu dài”

Mặc dù cảm nhận về giá có mức độ tác động thấp nhất, nhưng đây vẫn là rào cản tâm lý để khách hàng hình thành ý định mua nội thất xanh. Vì vậy, yhay vì để khách hàng chỉ nhìn vào giá mua ban đầu, doanh nghiệp cần đào tạo nhân viên tư vấn cách tính toán giá trị dài hạn khi mua và sử dụng nội thất xanh đến khách hàng, như sản phẩm bền hơn, không tốn chi phí thay thế sớm và bảo vệ sức khỏe (giảm chi phí y tế)

Thêm vào đó, doanh nghiệp có thể áp dụng các chính sách tài chính linh hoạt nhằm thu hút nhóm khách hàng trẻ (22-30 tuổi) thông qua các gói trả góp 0% hoặc chương trình “Thu cũ - Đổi nội thất xanh” để kích cầu

Thúc đẩy chuyển hóa từ “Ý định” sang “Quyết định”

Mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là hành vi quyết định mua hàng, do đó doanh nghiệp cần tập trung vào các kỹ thuật chốt đơn như ứng dụng thực tế ảo để cho phép khách hàng “đưa” các đồ nội thất xanh vào căn hộ hiện tại của mình thông qua ứng dụng trên điện thoại nhằm thúc đẩy ý định mua chuyển hóa thành hành động chi trả.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần cam kết các dịch vụ hậu mãi xanh như cung cấp dịch vụ bảo trì định kỳ và cam kết thu hồi sản phẩm để tái chế khi hết vòng đời. Điều này tạo ra một vòng lặp tiêu dùng khép kín, khiến khách hàng an tâm tuyệt đối khi lựa chọn thương hiệu.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

2. Chen, Y. S. (2010). The Drivers of Green Brand Equity: Green Brand Image, Green Satisfaction, and Green Trust. Journal of Business Ethics, 93(2), 307-319. https://doi.org/10.1007/s10551-009-0223-9

3. Kelman, H. C. (1958). Compliance, identification, and internalization three processes of attitude change. Journal of conflict resolution, 2(1), 51-60.

4. Ladhari, R., Souiden, N., & Ladhari, I. (2011). Determinants of loyalty and recommendation: The role of perceived service quality, emotional satisfaction and image. Journal of financial Services marketing, 16(2), 111-124.

5. Lorek, S., & Fuchs, D. (2013). Strong sustainable consumption governance - precondition for a degrowth path? Journal of Cleaner Production, 38, 36-43. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2011.08.008

6. Mihajlovic, M., Savic, A., & Sarcevic, V. (2025). Stages in the consumer buying decision-making process. Mest Journal, 13(2), 166-176.

7. Monroe, K. B. (1973). Buyers’ subjective perceptions of price. Journal of marketing research, 10(1), 70-80.

8. Morgan, R. M., & Hunt, S. D. (1994). The commitment-trust theory of relationship marketing. Journal of marketing, 58(3), 20-38.

9. Morwitz, V. (2014). Consumers' purchase intentions and their behavior. Foundations and Trends® in Marketing, 7(3), 181-230.

10. Mostafa, M. M. (2007). A hierarchical analysis of the green consciousness of the Egyptian consumer. Psychology & marketing, 24(5), 445-473.

11. Shubham. (2025). Vietnam eco friendly furniture market outlook to 2030. Ken Research. https://www.kenresearch.com/vietnam-eco-friendly-furniture-market

12. Septiani, T. (2024, August). Analysis of consumer purchase intentions on Matahari. com in DKI Jakarta. In International Student Conference on Business, Education, Economics, Accounting, and Management (ISC-BEAM) (Vol. 2, No. 1).

13. Tass, M. A., Hakim, I. A., Kakroo, N. A., & Nabi, W. (2025). Online Shopping for a Sustainable Future: The Mediating Role of Sustainable Purchase Intention in Consumer Decision-Making. Management & Sustainability: An Arab Review. https://doi.org/10.1108/MSAR-10-2024-0191

14. Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.

15. Trần Thị Hương. (2020). Các yếu tố tác động đến quyết định chọn mua mặt hàng trang trí nội thất phòng khách của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học. Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(2), 5-18.

16. Trần Thị Minh Nguyệt. (2024). Ảnh hưởng của vật liệu nội thất đến các hợp chất ô nhiễm không khí trong nhà và hệ lụy sức khỏe. Tạp chí Kiến trúc. https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/anh-huong-cua-vat-lieu-noi-that-den-cac-hop-chat-o-nhiem-khong-khi-trong-nha-va-he-luy-suc-khoe.html

18. Trần Xuân Toàn. (2023).Sử dụng vật liệu nội thất bền vững và an toàn để bảo vệ sức khỏe. Báo Tuổi Trẻ. https://hochiminhcity.gov.vn/vi/w/su-dung-vat-lieu-noi-that-uu-tien-yeu-to-an-toan-va-ben-vung-e-bao-ve-suc-khoe

19. Zeithaml, V. A. (1988). Consumer perceptions of price, quality, and value: a means-end model and synthesis of evidence. Journal of marketing, 52(3), 2-22.

Ngày nhận bài: 13/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/6/2026; Ngày duyệt đăng: 9/6/2026

Các tin khác

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.