Tác động của truyền miệng điện tử, nội dung người dùng và doanh nghiệp tạo đến ý định lựa chọn phòng khám nha khoa tại Hà Nội

Nghiên cứu - Trao đổi 08:45 | 22/03/2026
Kết quả phân tích 497 phiếu khảo sát từ người dân đang sinh sống và làm việc tại TP. Hà Nội cho thấy, chất lượng và độ tin cậy thông tin của Truyền miệng điện tử, Nội dung người dùng tạo, Nội dung doanh nghiệp tạo có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa.

TS. Nguyễn Thị Ái Liên

Nguyễn Trọng Đức

Email: [email protected]

Lê Ngọc Khánh

Email: [email protected]

Nguyễn Kim Khánh

Email: [email protected]

Phạm Nguyễn Hà Anh

Email: [email protected]

Trần Quỳnh Trang

Email: [email protected]

Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Nghiên cứu này xem xét tác động của truyền miệng điện tử, nội dung người dùng tạo và nội dung doanh nghiệp tạo đến ý định lựa chọn phòng khám nha khoa tại Hà Nội. Kết quả phân tích 497 phiếu khảo sát từ người dân đang sinh sống và làm việc tại TP. Hà Nội cho thấy, chất lượng và độ tin cậy thông tin của Truyền miệng điện tử, Nội dung người dùng tạo, Nội dung doanh nghiệp tạo có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa. Trong đó, chất lượng thông tin Nội dung doanh nghiệp tạo có tác động mạnh nhất. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị cho các bên liên quan để quản lý cũng như có phương pháp truyền thông hiệu quả.

Từ khóa: Truyền miệng điện tử, nội dung người dùng tạo, nội dung doanh nghiệp tạo, phòng khám nha khoa, Hà Nội

Summary

This study examines the impact of electronic word-of-mouth, user-generated content, and firm-generated content on the intention to choose dental clinics in Ha Noi. The analysis of 497 survey responses collected from residents living and working in Ha Noi indicates that the quality and credibility of information conveyed through electronic word-of-mouth, user-generated content, and firm-generated content play significant roles in shaping the intention to select dental clinics. Among these factors, the information quality of firm-generated content exerts the strongest influence. Based on these findings, the research proposes several recommendations for relevant stakeholders to enhance management practices and develop effective communication strategies.

Keywords: Electronic word-of-mouth, user-generated content, firm-generated content, dental clinics, Ha Noi

GIỚI THIỆU

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng các nền tảng mạng xã hội, cách thức người tiêu dùng tiếp cận thông tin và ra quyết định đã có nhiều thay đổi. Người tiêu dùng ngày nay chủ động tìm kiếm và đánh giá thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trước khi lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ, đặc biệt đối với những dịch vụ có mức độ rủi ro cảm nhận và tính vô hình cao như lĩnh vực nha khoa. Trong môi trường trực tuyến, truyền miệng điện tử, nội dung người dùng tạo và nội dung doanh nghiệp tạo được xem là những nguồn thông tin quan trọng, góp phần hình thành thái độ và định hướng ý định hành vi của người tiêu dùng. Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng dịch vụ nha khoa tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng ngày càng gia tăng, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các phòng khám nha khoa, mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng trở nên gay gắt hơn, khiến vai trò của các nguồn thông tin trực tuyến trong việc định hướng lựa chọn của khách hàng ngày càng quan trọng.

Tuy nhiên, các nghiên cứu về truyền miệng điện tử, nội dung người dùng tạo và nội dung doanh nghiệp tạo chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại điện tử và du lịch, trong khi các nghiên cứu trong lĩnh vực nha khoa còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều công trình thường tiếp cận các nguồn thông tin này một cách tách biệt, thiếu mô hình tích hợp để so sánh mức độ và cơ chế tác động giữa chúng. Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện trong các bối cảnh quốc gia khác nhau, do đó kết quả khó có thể phù hợp hoàn toàn trong bối cảnh Việt Nam nói chung và TP. Hà Nội nói riêng.

Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của truyền miệng điện tử, nội dung người dùng tạo và nội dung doanh nghiệp tạo (bao gồm cả 2 khía cạnh là chất lượng và độ tin cậy) đến ý định lựa chọn phòng khám nha khoa tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần mở rộng ứng dụng Mô hình chấp nhận thông tin trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà còn cung cấp các hàm ý thực tiễn cho các phòng khám nha khoa trong việc xây dựng chiến lược truyền thông số hiệu quả.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Truyền miệng điện tử (eWOM)

Dựa trên nền tảng khái niệm WOM của Westbrook (1987), Litvin và cộng sự (2008) định nghĩa truyền miệng điện tử (electronic Word of Mouth - eWOM) là các hình thức giao tiếp phi chính thức giữa người tiêu dùng thông qua Internet liên quan đến việc sử dụng hoặc đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ hoặc người bán. Trong lĩnh vực dịch vụ, eWOM đóng vai trò đặc biệt quan trọng do các đặc trưng như tính vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng và không thể lưu trữ của dịch vụ (Moeller, 2010). Nghiên cứu của Navitha Sulthana và Shanmugam (2019) cho thấy eWOM trên các nền tảng mạng xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua hàng, do người tiêu dùng thường tin tưởng các đánh giá mang tính phi thương mại. Để giải thích cơ chế tác động này, Erkan và Evans (2016) đã mở rộng Mô hình chấp nhận thông tin (Information Adoption Model - IAM), cho rằng các yếu tố như chất lượng và độ tin cậy của thông tin, tính hữu ích, khả năng tiếp nhận thông tin, nhu cầu thông tin và thái độ đối với thông tin đều ảnh hưởng đến việc chấp nhận eWOM và từ đó tác động đến ý định hành vi.

Tại Việt Nam,Vũ và cộng sự (2023) cũng vận dụng mô hình IAM để phân tích ảnh hưởng của eWOM đến ý định lựa chọn cơ sở y tế tư nhân trong khám sức khỏe sinh sản của nữ giới thuộc thế hệ Z.

Nội dung người dùng tạo (UGC)

Daugherty và cộng sự (2008) định nghĩa nội dung người dùng tạo (User Generated Content - UGC) là các nội dung truyền thông được sản xuất bởi những cá nhân không được trả thù lao và được phân phối trên các nền tảng trực tuyến. Trong khi đó, Kaplan và Haenlein (2010) cho rằng UGC bao gồm các nội dung do người dùng cuối tạo ra và công bố công khai trên Internet dưới nhiều định dạng khác nhau. Điểm cốt lõi của UGC không nằm ở việc đưa ra khuyến nghị trực tiếp mà ở việc ghi lại và chia sẻ trải nghiệm cá nhân một cách trực quan, qua đó cung cấp cho người xem góc nhìn thực tế về cách sản phẩm hoặc dịch vụ được sử dụng trong đời sống. Cheong và Morrison (2008) chỉ ra rằng người tiêu dùng có xu hướng chủ động tìm kiếm thông tin và đề xuất trước khi mua, đặc biệt đối với các sản phẩm hoặc dịch vụ có mức độ rủi ro cao. Dựa trên khuôn khổ Mô hình chấp nhận thông tin, Demba và cộng sự (2019) cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy chất lượng thông tin và độ tin cậy của nguồn là những yếu tố cốt lõi trong cơ chế tác động của UGC.

Trong bối cảnh Việt Nam, Phạm và cộng sự (2024) cũng có kết quả nghiên cứu tương tự trong việc phân tích tác động của UGC đến ý định sử dụng dịch vụ telehealth.

Nội dung doanh nghiệp tạo (FGC)

Theo Kumar và cộng sự (2016), nội dung doanh nghiệp tạo (Firm Generated Content - FGC) được hiểu là các thông điệp do doanh nghiệp chủ động tạo ra và đăng tải trên các kênh truyền thông chính thức của mình, đặc biệt là trên các nền tảng mạng xã hội. Tiếp cận theo góc độ hành vi người tiêu dùng, Colicev và cộng sự (2019) định nghĩa FGC là nội dung được các nhà tiếp thị tạo ra trên các trang thương hiệu chính thức, bao gồm bài viết giới thiệu sản phẩm, thông tin khuyến mãi, video quảng bá, hình ảnh thương hiệu hoặc các nội dung mang tính giáo dục và tư vấn. Trong lĩnh vực dịch vụ nha khoa, nghiên cứu của Putri và Sijabat (2021) đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ về tác động trực tiếp của FGC đến quyết định lựa chọn phòng khám nha khoa. Kết quả cho thấy FGC chính là yếu tố có tác động mạnh và tích cực nhất tới ý định lựa chọn phòng khám nha khoa.

Chấp nhận thông tin

Sự chấp nhận thông tin (Information Adoption) được xem là kết quả trung tâm của toàn bộ quá trình xử lý thông tin trong Mô hình IAM. Theo Sussman và Siegal (2003), sự chấp nhận thông tin là một quá trình nội hóa, trong đó các thông điệp, lập luận hoặc khuyến nghị nhận được từ bên ngoài được cá nhân tiếp nhận, đánh giá và chuyển hóa thành niềm tin hoặc hiểu biết có ý nghĩa đối với bản thân, từ đó tác động đến quyết định hành vi. Sự chấp nhận thông tin xảy ra khi người tiêu dùng đánh giá rằng các thông tin từ những nguồn này là đáng tin, phù hợp với nhu cầu và có giá trị tham khảo thực tiễn, khiến họ sẵn sàng sử dụng thông tin đó làm căn cứ cho việc hình thành thái độ và ý định lựa chọn dịch vụ.

Ý định lựa chọn

Theo Ajzen (1991), ý định là mức độ sẵn sàng của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi cụ thể, phản ánh động cơ thúc đẩy hành vi cũng như mức độ nỗ lực mà cá nhân dự định bỏ ra để thực hiện hành vi đó. Ajzen cho rằng ý định là chỉ báo trực tiếp và gần nhất của hành vi, trong đó ý định càng mạnh thì khả năng hành vi xảy ra càng cao. Dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch, ý định lựa chọn dịch vụ được hình thành từ quá trình đánh giá nhận thức và thái độ của cá nhân đối với hành vi, bao gồm việc cân nhắc lợi ích, rủi ro và mức độ phù hợp của dịch vụ với nhu cầu cá nhân. Trong bối cảnh dịch vụ có mức độ rủi ro cảm nhận cao như nha khoa, ý định lựa chọn đóng vai trò như một bước trung gian quan trọng giữa nhận thức thông tin và hành vi sử dụng dịch vụ thực tế.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào các nghiên cứu trước đây và một số lý thuyết nền, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của Truyền miệng điện tử, Nội dung người dùng tạo và Nội dung doanh nghiệp tạo (bao gồm cả 2 khía cạnh là chất lượng và độ tin cậy) đến Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa tại Hà Nội như Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Chất lượng thông tin đến chấp nhận thông tin (ADOP)

Theo Cheung và cộng sự (2008), chất lượng thông tin phản ánh mức độ chính xác, đầy đủ, phù hợp và kịp thời của nội dung. Nghiên cứu của Sussman và Siegal (2003) cho thấy chất lượng thông tin có ảnh hưởng tích cực đến sự chấp nhận thông tin của người tiêu dùng. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xem xét chất lượng từ 3 nguồn thông tin eWOM, UGC và FGC để đánh giá tác động của chúng đến sự chấp nhận thông tin trong bối cảnh dịch vụ nha khoa, từ đó đề xuất các giả thuyết sau:

H1a: Chất lượng thông tin eWOM có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin

H2a: Chất lượng thông tin UGC có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin

H3a: Chất lượng thông tin FGC có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin

Độ tin cậy thông tin đến chấp nhận thông tin

Độ tin cậy của thông tin phản ánh mức độ mà người tiếp nhận tin tưởng rằng thông tin được cung cấp là chính xác, đáng tin và có giá trị trong việc hỗ trợ ra quyết định. Nghiên cứu của Sussman và Siegal (2003) chỉ ra rằng độ tin cậy có tác động tích cực đến sự chấp nhận thông tin. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xem xét độ tin cậy từ 3 nguồn thông tin eWOM, UGC và FGC để đánh giá tác động của chúng đến sự chấp nhận thông tin trong bối cảnh dịch vụ nha khoa, từ đó đề xuất các giả thuyết sau:

H1b: Độ tin cậy thông tin eWOM có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin

H2b: Độ tin cậy thông tin UGC có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin

H3b: Độ tin cậy thông tin FGC có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin

Chấp nhận thông tin đến ý định lựa chọn

Theo Kaur (2023), chấp nhận thông tin được hình thành khi người tiếp nhận cho rằng thông tin đó hữu ích, giúp gia tăng kiến thức và ra quyết định dễ dàng hơn, từ đó hình thành thái độ và ý định lựa chọn. Erkan và Evans (2016), Phạm và cộng sự (2024) cũng cho thấy chấp nhận thông tin có ảnh hưởng tích cực đến ý định lựa chọn. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất giả thuyết:

H4: Chấp nhận thông tin có tác động tích cực đến Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa (SI).

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp khảo sát trực tuyến qua Google Biểu mẫu trong thời gian đầu năm 2026 với bảng hỏi thiết kế theo thang đo Likert 5 điểm. Kết quả thu được 497 mẫu khảo sát hợp lệ từ người dân đang sinh sống và làm việc tại TP. Hà Nội. Dữ liệu sau khi thu thập được phân loại, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 27.0 và AMOS 24. Nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật phân tích thống kê định lượng theo trình tự: Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá - EFA, Phân tích nhân tố khẳng định - CFA, Kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính - SEM.

Nghiên cứu sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của tất cả các nhân tố đều lớn hơn 0.7. Đồng thời, hệ số tương quan biến - tổng của các biến quan sát đều lớn hơn 0.3. Như vậy, các thang đo đều thỏa mãn các tiêu chí về độ tin cậy và phù hợp để tiếp tục sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Theo đó, có 31 biến quan sát chính thức thuộc 8 nhóm nhân tố được sử dụng trong các bước phân tích tiếp theo của nghiên cứu.

Phân tích nhân tố khám phá EFA

Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần thứ nhất cho thấy 3 biến quan sát không đạt tiêu chuẩn khi hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0.5, đồng thời xuất hiện hiện tượng tải chéo giữa các nhân tố. Sau khi loại bỏ 3 biến này, phân tích EFA được thực hiện lại với các biến quan sát còn lại.

Kết quả phân tích nhân tố khám phá lần thứ hai cho thấy hệ số KMO đạt 0.924 (> 0.5) đồng thời kiểm định Bartlett được kết luận là có ý nghĩa thống kê khi giá trị Sig. = 0.000 < 0.05, cho thấy dữ liệu phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố. Kết quả phân tích trích được 8 nhân tố tại giá trị Eigenvalue > 1, với Eigenvalue nhỏ nhất đạt 1.063 và tổng phương sai trích đạt 53.207%. Đồng thời, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5 và không xuất hiện hiện tượng tải chéo đáng kể, cho thấy các thang đo đảm bảo giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Như vậy 28 biến quan sát được giữ lại tiếp tục được xử lý với bước phân tích nhân tố khẳng định CFA.

Phân tích nhân tố khẳng định CFA

Kết quả phân tích nhân tố khẳng định cho thấy các chỉ số đánh giá mức độ phù hợp của mô hình đều thỏa mãn các tiêu chuẩn. Cụ thể, chỉ số CMIN/DF đạt 1.330 (< 3), chỉ số CFI đạt 0.980 (≥ 0.95), chỉ số TLI đạt 0.976 (≥ 0.9) và chỉ số RMSEA đạt 0.026 (≤ 0.06). Các chỉ số độ tin cậy, tính hội tụ, tính phân biệt thang đo đều đạt ngưỡng tiêu chuẩn tương ứng là hệ số độ tin cậy tổng hợp (CR) các nhân tố đều lớn hơn 0.70; phương sai trích trung bình (AVE) các nhân tố đều lớn hơn 0.50; MSV của mỗi cấu trúc đều nhỏ hơn AVE và căn bậc hai của AVE lớn hơn các hệ số tương quan giữa các cấu trúc theo tiêu chuẩn Fornell - Larcker.

Phân tích mô hình cấu trúc SEM

Kết quả phân tích mô hình cấu trúc cho thấy mô hình nghiên cứu có mức độ phù hợp tốt với dữ liệu khảo sát với các chỉ số đạt tiêu chuẩn: CMIN/df = 1.525 (< 3), CFI = 0.967 (> 0.95), TLI = 0.926 (> 0.90) và RMSEA = 0.033 (< 0.06). Điều này khẳng định mô hình cấu trúc đề xuất phù hợp để kiểm định các mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu.

Hình 2: Tóm tắt kết quả phân tích mô hình cấu trúc SEM

Nguồn: Kết quả phân tích

Kết quả phân tích hệ số xác định R² cho thấy mô hình giải thích được 54.1% phương sai của biến Chấp nhận thông tin (ADOP) và 46.3% phương sai của biến Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa (SI), cho thấy khả năng giải thích ở mức trung bình.

Bảng: Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Giả thuyết

Mối quan hệ

Ước lượng hồi quy chuẩn hóa

P-value

Kết luận

H1a

ADOP ← EIQ

0.140

0.032

Chấp nhận

H1b

ADOP ← EIC

0.166

0.024

Chấp nhận

H2a

ADOP ← UIQ

0.166

0.014

Chấp nhận

H2b

ADOP ← UIC

0.165

0.021

Chấp nhận

H3a

ADOP ← FIQ

0.200

0.003

Chấp nhận

H3b

ADOP ← FIC

0.097

0.114

Bác bỏ

H4

SI ← ADOP

0.681

***

Chấp nhận

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Với mức ý nghĩa 5%, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng và độ tin cậy của eWOM đều tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin, cho thấy các đánh giá trực tuyến rõ ràng và đáng tin cậy giúp người tiêu dùng giảm bớt sự không chắc chắn khi lựa chọn phòng khám nha khoa.

Tương tự, chất lượng và độ tin cậy của UGC cũng ảnh hưởng tích cực đến Chấp nhận thông tin, phản ánh vai trò của các trải nghiệm thực tế được chia sẻ trong việc hỗ trợ người tiêu dùng hình dung trước quá trình sử dụng dịch vụ.

Đối với FGC, chất lượng thông tin có tác động tích cực đến Chấp nhận thông tin, cho thấy các nội dung minh bạch về quy trình điều trị, chi phí và chuyên môn góp phần định hướng nhận thức ban đầu của khách hàng. Tuy nhiên, độ tin cậy của FGC không có ý nghĩa thống kê, cho thấy người tiêu dùng có xu hướng thận trọng với các thông tin mang tính quảng bá và thường tìm kiếm sự xác nhận từ các nguồn độc lập như eWOM hoặc UGC.

Cuối cùng, Chấp nhận thông tin có ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ đến Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa tại Hà Nội, khẳng định rằng khi thông tin được đánh giá là chất lượng và đáng tin cậy, ý định lựa chọn của người tiêu dùng sẽ gia tăng.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của chất lượng thông tin và độ tin cậy thông tin của eWOM, UGC, FGC đến Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa tại Hà Nội bằng Mô hình chấp nhận thông tin (IAM). Kết quả cho thấy đa số các yếu tố có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến Ý định lựa chọn phòng khám nha khoa, trong đó chất lượng thông tin FGC có tác động mạnh nhất. Tuy nhiên, độ tin cậy của FGC lại không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này.

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị như sau:

Một là, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động truyền thông và quảng cáo dịch vụ y tế trên môi trường số và xây dựng cơ chế kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi tạo đánh giá ảo, thao túng phản hồi trực tuyến, lan truyền thông tin sai sự thật trên mạng xã hội.

Bên cạnh việc nâng cao nhận thức về xử lý thông tin cho người dân, việc phát triển một cổng thông tin chính thống về các phòng khám nha khoa được cấp phép hoạt động sẽ giúp người dân có nguồn tham khảo đáng tin cậy, giúp xây dựng môi trường truyền thông số minh bạch, an toàn hơn trong lĩnh vực nha khoa.

Hai là, các phòng khám nha khoa cần tập trung cung cấp những nội dung mang tính thông tin và giáo dục, đồng thời phản ánh trung thực năng lực chuyên môn, quy trình điều trị và trải nghiệm thực tế của bệnh nhân.

Các phòng khám cũng cần chủ động quản trị đánh giá trực tuyến trên các nền tảng, khuyến khích nội dung do khách hàng tạo ra một cách tự nhiên và dựa trên trải nghiệm thực tế để xây dựng niềm tin và uy tín với khách hàng.

Ngoài ra, việc nâng cao trải nghiệm khách hàng toàn diện không chỉ nâng cao mức độ hài lòng mà còn thúc đẩy các đánh giá tích cực và sự truyền miệng thuận lợi trên môi trường số.

Ba là, người tiêu dùng cần tiếp nhận thông tin y tế trên môi trường trực tuyến một cách thận trọng, có chọn lọc và chủ động tham khảo ý kiến của người có chuyên môn trước khi quyết định điều trị.

Người tiêu dùng cũng nên tham gia tích cực vào việc chia sẻ trải nghiệm thực tế sau khi sử dụng dịch vụ nhằm hỗ trợ cộng đồng, thúc đẩy tính minh bạch thông tin và tạo động lực nâng cao chất lượng dịch vụ nha khoa.

Để góp phần nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả điều trị cũng như giảm thiểu rủi ro y khoa, tiết kiệm thời gian và chi phí, người tiêu dùng nên ưu tiên lựa chọn những phòng khám nha khoa có thông tin minh bạch và uy tín.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Cheong, H. J. & Morrison, M. A. (2008). Consumers’ Reliance on Product Information and Recommendations Found in UGC. Journal of Interactive Advertising, 8(2), 38-49.

3. Cheung, C. M. K., Lee, M. K. O. & Rabjohn, N. (2008). The impact of electronic word‐of‐mouth. Internet Research, 18(3), 229-247.

4. Colicev, A., Kumar, A. & O'Connor, P. (2019). Modeling the relationship between firm and user generated content and the stages of the marketing funnel. International Journal of Research in Marketing, 36(1), 100-116.

5. Daugherty, T., Eastin, M. S. & Bright, L. (2008). Exploring Consumer Motivations for Creating User-Generated Content. Journal of Interactive Advertising, 8(2), 16-25.

6. Demba, D., Chiliya, N., Chuchu, T. & Ndoro, T. (2019). How user-generated content advertising influences consumer attitudes, trust and purchase intention of products and services. Communicare: Journal for Communication Sciences in Southern Africa, 38(1), 136-149.

7. Erkan, I. & Evans, C. (2016). The influence of eWOM in social media on consumers’ purchase intentions: An extended approach to information adoption. Computers in Human Behavior, 61, 47-55.

8. Kaplan, A. M. & Haenlein, M. (2010). Users of the world, unite! The challenges and opportunities of Social Media. Business Horizons, 53(1), 59-68.

9. Kaur, J. (2023). Investigating the credibility of online travel reviews adoption in trip planning intention among Indian travellers. Turizam, 27, 66-91.

10. Kumar, A., Bezawada, R., Rishika, R., Janakiraman, R. & Kannan, P. K. (2016). From Social to Sale: The Effects of Firm-Generated Content in Social Media on Customer Behavior. Journal of Marketing, 80(1), 7-25.

11. Litvin, S. W., Goldsmith, R. E. & Pan, B. (2008). Electronic word-of-mouth in hospitality and tourism management. Tourism Management, 29(3), 458-468.

12. Moeller, S. (2010). Characteristics of services - a new approach uncovers their value. Journal of Services Marketing, 24(5), 359-368.

13. Navitha Sulthana, A. & Shanmugam, V. (2019). Influence Of Electronic Word Of Mouth eWOM On Purchase Intention. International Journal of Scientific and Technology Research, 8(10), 1-5.

14. Phạm, V. T., Nguyễn, H. M., Nguyễn, K. L., Hoàng, P. Y., Trần, H. T. & Hoàng, N. K. L. (2024). The impact of Firm Generated Content (FGC) and User Generated Content (UGC) on the intention to use telehealth services. Ho Chi Minh city Open university Journal of Science - Economics and Business Administration, 15(2), 37-50.

15. Putri, V. M. & Sijabat, R. (2021). Pengaruh Firm Generated Content, Electronic Word of Mouth, Celebrity Endorsement, Harga dan Fasilitas terhadap Keputusan Memilih Klinik Gigi. Jurnal InterAct, 10(1), 57-71.

16. Sussman, S. W. & Siegal, W. S. (2003). Informational Influence in Organizations: An Integrated Approach to Knowledge Adoption. Information Systems Research, 14(1), 47-65.

17. Vũ, Đ. N., Vương, T. H., Đỗ, M. P., Nguyễn, T. T. T. & Huỳnh, V. K. (2023). Ảnh hưởng của eWOM đến ý định lựa chọn cơ sở y tế tư nhân để khám sức khỏe sinh sản của nữ giới thuộc thế hệ Gen Z. Kinh tế và Dự báo (6), 123-126.

18. Westbrook, R. A. (1987). Product/Consumption-Based Affective Responses and Postpurchase Processes. Journal of Marketing Research, 24(3), 258-270.

Ngày nhận bài: 16/2/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/3/2026; Ngày duyệt đăng: 20/3/2026

Các tin khác

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.