Ảnh hưởng của rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế đến tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng từ các quốc gia mới nổi
TS. Hoàng Thị Hạnh
Email: hthanh@ufm.edu.vn
Viện Công Nghệ Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính - Marketing
ThS. Bùi Kim Tú
Trường Đại học Tài chính - Marketing
ThS. Lê Thị Mỹ Ngân
Viện Công Nghệ Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Tài chính - Marketing
Nguyễn Thị Hồng Như
Trường Đại học Tài chính - Marketing
Tóm tắt
Nghiên cứu kiểm tra tác động của bất định chính sách kinh tế và rủi ro địa chính trị đến tăng trưởng kinh tế tại 20 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn từ 2008-2024. Kết quả cho thấy, rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế với xác suất xảy ra là 95%. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng phát hiện ra rằng, tác động tiêu cực của bất định chính sách kinh tế lớn hơn khoảng 2 lần so với ảnh hưởng từ rủi ro địa chính trị. Ngoài ra, mức độ ảnh hưởng của bất định chính sách kinh tế đến tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào mỗi quốc gia khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm ra bằng chứng về tác động cùng chiều của các yếu tố: lao động, vốn, lạm phát và tác động ngược chiều của các yếu tố tốc độ tăng dân số, độ mở thương mại, chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố được tìm thấy trong mô hình là khá nhỏ.
Từ khóa: Bất định chính sách kinh tế, rủi ro địa chính trị, tăng trưởng kinh tế, quốc gia mới nổi
Summary
This study examines the impact of economic policy uncertainty and geopolitical risk on economic growth in 20 emerging economies over the period 2008-2024. The results indicate that both geopolitical risk and economic policy uncertainty have statistically significant negative effects on economic growth at the 95% confidence level. Moreover, the findings reveal that the adverse impact of economic policy uncertainty is approximately twice that of geopolitical risk. The study also shows that the effect of economic policy uncertainty varies across countries. In addition, evidence is found for positive effects of labor, capital, and inflation, and negative effects of population growth rate, trade openness, and government expenditure on economic growth. However, the magnitude of these effects is relatively small.
Keywords: Economic policy uncertainty, geopolitical risk, economic growth, emerging economies
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mức độ rủi ro địa chính trị đang có xu hướng gia tăng đối với hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Hình 1 mô tả Chỉ số Rủi ro địa chính trị thế giới trong giai đoạn từ tháng 1/2025 đến hiện tại, trong đó các điểm nóng về xung đột địa chính trị có xu hướng lan rộng ra các khu vực xung quanh Ukraine và Venezuela. Mặc dù mức độ rủi ro chưa cao, nhưng nếu các chính phủ không có sự kiểm soát hiệu quả, rủi ro địa chính trị có thể bùng phát mạnh bất kỳ lúc nào. Các cuộc xung đột địa chính trị một mặt tiêu tốn nguồn tài chính khổng lồ, mặt khác góp phần phá hủy cơ sở vật chất, tài nguyên, thiên nhiên, hủy hoại môi trường. Hậu quả của các cuộc xung đột thường gây ảnh hưởng sâu sắc đến cả tăng trưởng kinh tế (TTKT) trong ngắn hạn và dài hạn. Hình 2 cho thấy Chỉ số Bất định chính sách kinh tế toàn cầu trong giai đoạn 2020-2025 có xu hướng duy trì ở mức cao và biến động mạnh, phản ánh môi trường kinh tế - chính trị quốc tế ngày càng phức tạp.
Đáng chú ý, rủi ro địa chính trị toàn cầu và bất định chính sách kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ và thường tác động qua lại lẫn nhau. Các cú sốc địa chính trị như xung đột quân sự, căng thẳng thương mại hoặc cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc có thể làm gia tăng mức độ khó dự đoán của môi trường chính sách, buộc các chính phủ phải điều chỉnh chính sách tài khóa, tiền tệ hoặc thương mại trong thời gian ngắn. Sự thay đổi hoặc trì hoãn các quyết định chính sách này làm gia tăng bất định chính sách kinh tế. Ngược lại, khi bất định chính sách gia tăng, thị trường và nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn, khiến tác động của các rủi ro địa chính trị đối với thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế càng trở nên mạnh mẽ.
Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế đến TTKT là cần thiết. Trong bối cảnh nghiên cứu này, nhóm tác giả phân tích bằng chứng cụ thể từ các quốc gia mới nổi.
Hình 1: Chỉ số Rủi ro địa chính trị thế giới
![]() |
Nguồn: https://www.matteoiacoviello.com/gpr_country.htm
Hình 2: Chỉ số bất định chính sách kinh tế toàn cầu
![]() |
Nguồn: https://www.policyuncertainty.com/
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Mối liên hệ chặt chẽ giữa rủi ro địa chính trị và TTKT được tìm thấy trong nhiều kết quả nghiên cứu. Khi rủi ro địa chính trị gia tăng sẽ kích hoạt cơ chế gia tăng tiết kiệm, giảm chi tiêu của người dân, đồng thời kéo theo sự trì hoãn đối với các quyết định đầu tư của các nhà đầu tư (Bloom, 2009). Bên cạnh đó, các bất ổn và căng thẳng địa chính trị kéo theo sự căng thẳng kinh tế thông qua sự gián đoạn chuỗi cung ứng, quá trình sản xuất và các hoạt động kinh tế khác. Một số chỉ số vĩ mô đã bị ảnh hưởng bởi rủi ro địa chính trị như: tình hình lạm phát tăng cao, sự biến động thường xuyên của các thị trường chứng khoán, dòng vốn đầu tư nước ngoài, nợ công… Kết quả nghiên cứu của Abadie và Gardeazabal (2008) cho thấy, rủi ro địa chính trị gia tăng hạn chế đầu tư và chuyển hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Gaibulloev và Sandler (2009) cũng chứng minh rằng, gia tăng rủi ro địa chính trị làm gia tăng chi tiêu chính phủ cho các hoạt động quân sự, an ninh, quốc phòng và từ đó làm giảm đầu tư ở khu vực công và khu vực tư nhân. Đặc biệt, đối với các quốc gia đang phát triển, việc suy giảm nguồn vốn đầu tư công theo hình thức xã hội hóa dẫn đến cản trở thúc đẩy TTKT. Theo Gaibulloev và Sandler (2009), rủi ro địa chính trị còn làm gia tăng chi phí kinh doanh như tiền lương, bảo hiểm, an ninh. Chi phí tăng lên dẫn đến sự suy giảm trong tỷ suất lợi nhuận đối với khoản đầu tư, do đó, tác động tiêu cực tới tăng trưởng. Hơn nữa, các khoản được viện trợ cũng có thể được sử dụng cho mục đích quân sự mà không đúng mục đích ban đầu, dẫn đến viện trợ bị cắt giảm. Điều này làm gia tăng sự suy giảm của TTKT. Nguyen và cộng sự (2023) nghiên cứu tác động của rủi ro địa chính trị đến TTKT của 41 quốc gia từ 2015 đến 2021 cho thấy, căng thẳng địa chính trị gia tăng gây cản trở tiến độ đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt ảnh hưởng đến TTKT, việc làm và hành động khí hậu.
Khi so sánh tác động của rủi ro địa chính trị đến TTKT giữa 2 nhóm: các nước phát triển và các nước mới nổi, đang phát triển, kết quả nghiên cứu của Jha và cộng sự (2024) cho thấy có sự khác biệt về tác động của căng thẳng địa chính trị đến TTKT đối với 2 nhóm nước này. Cụ thể, tác động tiêu cực được tìm thấy đối với nhóm nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, trong khi nhóm nền kinh tế phát triển là tích cực. Kết quả này được Jha và cộng sự (2024) cho rằng so với nhóm nền kinh tế mới nổi, nhóm nền kinh tế phát triển được chuẩn bị tốt hơn để hấp thụ và phục hồi sau các cú sốc địa chính trị.
Sự bất ổn chính sách kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đáng kể đến TTKT giữa các khu vực. Mức độ tác động này không đồng đều, phụ thuộc vào vai trò và quyết định chính sách của các nền kinh tế lớn như Mỹ và Trung Quốc, vốn có khả năng chi phối mạnh đến hoạt động kinh tế khu vực trong bối cảnh nhiều bất định. Sự không chắc chắn về chính sách kinh tế ảnh hưởng đến cả các quốc gia phát triển và đang phát triển thông qua việc tác động đến các quyết định đầu tư, tuyển dụng lao động và mở rộng hoạt động kinh doanh. Khi mức độ bất định gia tăng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư thường có xu hướng thận trọng hơn, giảm hoặc trì hoãn các quyết định đầu tư, từ đó làm suy giảm động lực và cản trở tăng trưởng kinh tế (Yıldız và cộng sự, 2025).
Hơn thế nữa, tác động đồng thời của rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế trong cùng một mô hình kết quả được tìm thấy tương tự. Olalere và cộng sự (2024) nghiên cứu tác động của 2 yếu tố này đến TTKT thông qua sự ổn định của 105 ngân hàng thương mại đến từ các quốc gia trong khối BRICS giai đoạn 2019-2021 bằng phương pháp VAR, GMM. Kết quả cho thấy, tác động riêng biệt và đồng thời của rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế đối với sự ổn định của ngân hàng là tiêu cực. Nghiên cứu của Li và cộng sự (2024) trong giai đoạn 1990-2020 tại Trung Quốc cũng tìm thấy rằng, tác động của rủi ro địa chính trị và bất động chính sách kinh tế đối với TTKT bền vững là tiêu cực cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Dứ liệu và phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 20 quốc gia mới nổi trong khoảng thời gian 2008-2024 từ World Bank và các nguồn uy tín khác. Thông tin về phương pháp đo lường và nguồn trích dẫn được mô tả trong Bảng 1.
Bảng 1: Mô tả dữ liệu nghiên cứu
| Tên biến | Ký hiệu | Phương pháp đo lường |
|---|---|---|
| Biến phụ thuộc |
|
|
| Tăng trưởng kinh tế | DGDP | Sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người thực lấy theo giá so sánh giữa kỳ này và kỳ trước sau khi được lấy log. |
| Biến độc lập |
|
|
| Rủi ro địa chính trị | GPR | Chỉ số này đo lường tần suất tin tức về những diễn biến bất lợi trên toàn cầu thông qua 10 tạp chí được đọc nhiều nhất. |
| Bất định chính sách kinh tế | EPU | Chỉ số này đo lường tần suất tin tức thể hiện sự bất định chính sách kinh tế từ các bài báo trong nước theo từng quốc gia |
| Biến kiểm soát |
|
|
| GDP kỳ trước | GDP1 | Thu nhập bình quân đầu người hàng năm theo giá cố định năm 2015, lấy Log |
| Lực lượng lao động | LABO | Quy mô lực lượng lao động tham gia vào nền kinh tế và được đo lường bằng tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến 64 tuổi) trên tổng dân số của một nước (%) |
| Tốc độ tăng dân số | POG | Mức độ tăng trưởng dân số ở một quốc gia. (%) |
| Độ mở thương mại | TO | Đo lường bằng tỷ lệ tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu/GDP danh nghĩa (%) |
| Lạm phát | INF | Tỷ lệ lạm phát đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (%) |
| Chi tiêu chính phủ | GOC | Tỷ lệ chi tiêu tiêu dùng của chính phủ trên GDP (%) |
| Vốn đầu tư | INV | Vốn đầu tư của chính phủ trên GDP (%) |
Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu và tính toán của tác giả
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa lý thuyết TTKT hiện đại, mô hình nghiên cứu thực nghiệm từ Jha và cộng sự (2024), nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu đánh giá tác động của rủi ro địa chính trị, bất định chính sách kinh tế đến TTKT của 20 nền kinh tế mới nổi như sau:
![]() |
Để thực hiện phân tích ảnh hưởng của rủi ro địa chính trị, bất định chính sách kinh tế đến TTKT ở các quốc gia mới nổi, nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Bayes. Nhằm đảm bảo suy luận Bayes dựa trên mô phỏng MCMC là hợp lý, nghiên cứu dựa trên chẩn đoán sự hội tụ của chuỗi MCMC. Tiếp đó, biểu đồ Autocorrelation và Effective sample size (ESS) được sử dụng để kiểm định tự tương quan của các chuỗi MCMC. Nếu kết quả độ trễ rớt (die off) nhỏ hơn 40 (< 40), thì mô hình vững (Kreinovich và cộng sự, 2019) và kết luận rằng các chuỗi MCMC không bị hiện tượng tự tương quan. Thêm vào đó, để kiểm định sự hội tụ của chuỗi MCMC, tác giả sử dụng các biểu đồ vết (Trace plot), biểu đồ phân phối hậu nghiệm (histogram), biểu đồ tự tương quan (Autocorrelation), ước tính mật độ hạt nhân (Density plot).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả thống kê mô tả
Kết quả thống kê mô tả chỉ ra rằng, mặc dù cùng là quốc gia mới nổi, các chỉ số vĩ mô cũng có một số sự khác biệt khá lớn. Điểm tương đồng của các nhóm quốc gia này thể hiện thông qua giá trị GPD bình quân đầu người, các chỉ số đánh giá qua khía cạnh rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế. Đối với một vài dữ liệu khác có độ lệch chuẩn lớn như: Lạm phát, Độ mở thương mại, nhóm tác giả thực hiện kỹ thuật lấy Log nhằm giảm thiểu khoảng cách này cho các kết quả nghiên cứu tiếp theo.
Bảng 2: Thống kê mô tả biến trong mô hình nghiên cứu
| Biến nghiên cứu | Số quan sát | Giá trị trung bình | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất | Độ lệch chuẩn |
|---|---|---|---|---|---|
| DGDP | 340 | 0,0175 | -0,1878 | 0,1404 | 0,0503 |
| GPR | 340 | 0,1722 | 0,0056 | 3,6903 | 0,3809 |
| EPU | 340 | 0,0837 | 0 | 0,4179 | 0,0655 |
| GDP1 | 340 | 3,8744 | 2,9664 | 4,8100 | 0,3506 |
| LABO | 340 | 69,3363 | 50,6290 | 85,6750 | 7,5299 |
| POG | 340 | 0,7133 | -8,4230 | 2,0953 | 0,9335 |
| TO | 340 | 78,0181 | 22,1059 | 186,6758 | 44,2803 |
| INF | 340 | 7,5768 | -1,1387 | 219,8839 | 16,2938 |
| GOC | 340 | 15,5982 | 5,6250 | 41,8556 | 4,7455 |
| INV | 340 | 24,6428 | 8,9320 | 46,5550 | 7,0869 |
Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu và tính toán của tác giả
Kết quả kiểm định sự hội tụ của chuỗi MCMC
Hình 3: Kiểm định hội tụ của chuỗi MCMC
![]() |
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Tác giả kiểm định sự hội tụ của chuỗi MCMC để đảm bảo rằng kết quả suy luận dựa trên mô phỏng mẫu MCMC theo Bayes là hợp lý. Để kiểm định sự hội tụ của chuỗi MCMC, tác giả kiểm tra biểu đồ vết chuỗi (Trace plot), biểu đồ phân phối hậu nghiệm (histogram), biểu đồ tự tương quan (Autocorrelation). Hình ảnh Autocorrelation của các biến độc lập với biến phụ thuộc cho thấy hệ số tương quan giảm nhanh về 0 khi độ trễ tăng. Bên cạnh đó, hình ảnh Trace của các biến độc lập cũng phản ánh các chuỗi dao động ngẫu nhiên quanh một mức ổn định, không có xu hướng tăng/giảm. Thêm vào đó, hình ảnh Density cũng cho thấy các Density của các chuỗi gần như trùng nhau, không có đỉnh giả, tương đồng với hình ảnh của Histogram, chứng tỏ các chuỗi đang lấy mẫu từ cùng một phân phối hậu nghiệm duy nhất (Hình 3).
Ngoài ra, để tăng thêm bằng chứng về tính hội tụ của chuỗi MCMC, chỉ tiêu ESS cũng được nhóm tác giả sử dụng. Số lượng ESS ước tính càng gần với số lượng của chuỗi MCMC (10.000) càng tốt. Kết quả cho thấy, ngoại trừ tham số GPR, số lượng ESS ước tính của các tham số còn lại đều bằng 10.000. Điều này một lần nữa khẳng định mức độ hội tụ của chuỗi MCMC là rất cao. Thông qua các kết quả trên, có thể khẳng định rằng suy diễn Bayes là vững và kết quả hồi quy tiếp theo là đáng tin cậy.
Bảng 3: Số lượng mẫu hiệu quả
| Biến nghiên cứu | ESS | Corr. Time | Efficiency |
|---|---|---|---|
| DGDP |
|
|
|
| GDP1 | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| GPR | 9696,38 | 1,03 | 0,9696 |
| EPU | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| LABO | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| POG | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| TO | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| INF | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| GOC | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| INV | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| CONS | 10000,00 | 1,00 | 1,0000 |
| VAR | 9.329,35 | 1,07 | 0,9320 |
Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu và tính toán của tác giả
Kết quả hồi quy theo Bayes
Bảng 4 cho thấy giá trị MCSE rất nhỏ và Efficiency avg đạt giá trị rất cao (0,9911), cho thấy chuỗi hiệu quả, kết quả hồi quy của mô hình là đáng tin cậy. Chỉ số trung bình của biến GPR tác động ngược chiều với TTKT với ngưỡng xác suất 95%. Điều này chỉ ra rằng, khi chỉ số rủi ro địa chính trị gia tăng thì TTKT bị ảnh hưởng tiêu cực đối với nhóm các quốc gia mới nổi trong giai đoạn nghiên cứu. Kết quả này phù hợp với các lập luận được đề cập ở trên và ủng hộ các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng tiêu cực của rủi ro địa chính trị gia tăng có tác động tiêu cực đến TTKT (Jha và cộng sự, 2024).
Bên cạnh rủi ro địa chính trị, biến số bất định chính sách kinh tế cũng có hệ số hồi quy trung bình âm, tuy nhiên, giá trị lớn hơn khoảng 2 lần so với chỉ số GPR. Điều này phản ánh rằng, bất định chính sách kinh tế tác động ngược chiều với TTKT gấp khoảng 2 lần so với rủi ro địa chính trị. Kết quả thực nghiệm này được lý giải là khi mức độ bất ổn rủi ro địa chính trị gia tăng thì các chính sách kinh tế sẽ trở nên khó đoán định trước hơn. Điều này, kích hoạt cơ chế thận trọng trong các quyết định đầu tư (Bloom, 2009), chuyển vốn đầu tư (Carney và cộng sự, 2024), gián đoạn chuỗi cung ứng, quá trình sản xuất (Abadie và Gardeazabal, 2008), gia tăng chi phí kinh doanh, gia tăng chi tiêu chính phủ, tăng chi phí kinh doanh (Gaibulloev và Sandler, 2009). Tuy nhiên, bất định chính sách kinh tế là biến có độ lệch chuẩn bằng 0,123214 và CL lớn nhất trong tất cả các biến của mô hình. Giá trị phản ánh rằng các mức độ bất định hậu nghiệm rất lớn, vì vậy ảnh hưởng tiêu cực của bất định chính sách kinh tế có thể khác biệt giữa các nền kinh tế khác nhau trong mẫu nghiên cứu.
Đối với nhóm biến kiểm soát, tác động của các biến số gồm TTTK kỳ trước liền kề (GDP1), tốc độ tăng dân số (POG), độ mở thương mại (TO), chi tiêu của chính phủ (GOC) đều có giá trị hồi quy trung bình âm với xác suất xảy ra kết quả này là 95%. Kết quả này cho thấy các biến số vĩ mô này có tác động ngược chiều với TTKT tại các quốc gia mới nổi trong giai đoạn 2008-2024. Tuy nhiên, với giá trị hồi quy trung bình rất nhỏ và khoảng tin cậy khá rộng, chứng tỏ rằng tác động ngược chiều của TTKT quá khứ, tốc độ tăng dân số, độ mở thương mại và chi tiêu của chính phủ đối với TTKT hiện tại không thực sự rõ ràng.
Ngoài ra, các biến kiểm soát còn lại gồm lực lượng lao động (LABO), vốn đầu tư (INV) và lạm phát (INF) lại có tác động thuận chiều đối với TTKT cho nhóm quốc gia mới nổi, với xác suất xảy ra các kết quả này là 95%. Kết quả ảnh hưởng của LABO và INV tiếp tục khẳng định các yếu tố cơ bản đóng góp cho TTKT theo các lý thuyết tăng trưởng cổ điển và hiện đại. Tuy nhiên, cũng giống như nhóm biến kiểm soát trên, giá trị trung bình thấp và khoảng CL đối với các biến LABO, INV và INF khá rộng, vì vậy tác động tích cực của các yếu tố này đến TTKT chưa thực sự mạnh mẽ..
Bảng 4: Kết quả hồi quy Bayes
| Biến nghiên cứu | Trung bình | Độ lệch chuẩn | MCSE | Trung vị | Khoảng tin cậy 95% (CL) | |
|---|---|---|---|---|---|---|
| GDP1 | -0,022653 | 0,027327 | 0,000267 | -0,022853 | -0,076366 | 0,030816 |
| GPR | -0,011087 | 0,024475 | 0,000249 | -0,011353 | -0,058649 | 0,036829 |
| EPU | -0,025151 | 0,123214 | 0,001217 | -0,255633 | -0,270875 | 0,218202 |
| LABO | 0,000838 | 0,001089 | 0,000011 | 0,000832 | -0,001244 | 0,002958 |
| POG | -0,007569 | 0,011912 | 0,000119 | -0,007716 | -0,030463 | 0,016382 |
| TO | -0,000012 | 0,000190 | 1,9e-06 | -0,000012 | -0,000385 | 0,000361 |
| INF | 0,000050 | 0,000456 | 4,6e-06 | 0,000047 | -0,000842 | 0,000943 |
| GOC | -0,000658 | 0,002693 | 0,000026 | -0,000702 | -0,005861 | 0,004683 |
| INV | 0,001077 | 0,001277 | 0,000013 | 0,001059 | -0,001399 | 0,003575 |
| CONS | 0,040302 | 0,107306 | 0,001058 | 0,040949 | -0,167477 | 0,254454 |
| VAR | 0,017332 | 0,001351 | 0,000014 | 0,017275 | 0,014838 | 0,020130 |
| Avg acceptance rate | 1 | |||||
| Avg efficiency | 0,9911 | |||||
Nguồn: dữ liệu nghiên cứu và tính toán của tác giả
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro địa chính trị và bất định chính sách kinh tế có tác động tiêu cực đối với TTKT với xác suất 95% với mức tác động tiêu cực của bất định chính sách lên TTKT gấp khoảng 2 lần so với rủi ro địa chính trị. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng tìm tác động ngược chiều của các biến gồm TTKT kỳ trước, tốc độ tăng dân số và chi tiêu của chính phủ. Tuy nhiên, các biến còn lại trong mô hình gồm lực lượng lao động, vốn vật chất và lạm phát lại có tác động thuận chiều đến TTKT. Mặc dù ảnh hưởng của các biến kiểm soát đến TTKT được xác lập tuy nhiên mức độ tác động khá yếu vì hệ số hồi quy nhỏ và khoảng tin cậy khá rộng.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách trong việc quản trị các rủi ro về bất ổn địa chính trị, bất định chính sách kinh tế cho các quốc gia mới nổi như sau:
Một là, gia tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc về rủi ro địa chính trị và sự không chắc chắn về chính sách kinh tế từ bên ngoài. Chính phủ các nước nên tạo vùng đệm nhằm tránh các cú sốc đột ngột thông qua một số giải pháp như xác lập giới hạn dự trữ ngoại hối an toàn, hạn chế vay nợ quốc tế, củng cố các quỹ bình ổn lương thực, năng lượng.
Hai là, gia tăng nhận thức toàn diện hơn nữa về tầm quan trọng của việc gìn giữ ổn định chính trị trong một kỷ nguyên với những diễn biến đầy phức tạp giữa các cường quốc để tránh rơi vào những cuộc xung đột địa chính trị trực tiếp. Giữ được sự ổn định chính trị cũng gián tiếp tạo ra một tấm đệm quan trọng nhằm giảm bớt các cú sốc từ các biến động về chính trị, kinh tế quốc tế gây ra.
Ba là, tăng cường củng cố sức mạnh nội lực kinh tế quốc gia và đa dạng hóa hoạt động kinh tế quốc tế có chọn lọc. Cụ thể, các chiến lược phát triển nên được thiết kế linh hoạt, có tính đến đặc thù thể chế, mức độ phát triển tài chính và khả năng hấp thụ cú sốc của từng quốc gia, thay vì áp dụng các khuôn mẫu chính sách chung.
(*) Đề tài này được tài trợ bởi Trường Đại học Tài chính - Marketing theo Quyết định số 1487/QĐ-ĐHTCM-QLKHHTQT với mã số CS-46-25.
Tài liệu tham khảo:
1. Abadie, A., & Gardeazabal, J. (2008). Terrorism and the world economy. European Economic Review, 52(1), 1-27.
2. Bloom, N. (2009). The impact of uncertainty shocks. Econometrica, 77(3), 623-685.
3. Carney, R. W., El Ghoul, S., Guedhami, O., & Wang, H. (2024). Geopolitical risk and the cost of capital in emerging economies. Emerging Markets Review. https://doi.org/10.1016/j.ememar.2024.101149.
4. Gaibulloev K, Sandler T (2009). The impact of terrorism and conflicts on growth in Asia. Econ Polit, 21(3), 359-383.
5. Jha, S., Bhushan, S., & Nirola, N. (2024). Is geopolitical risk always detrimental to economic growth? Economic Change and Restructuring, 57(2), 25.
6. Kreinovich, V., Thach, N. N., Trung, N. D., & Thanh, D. V. (2019). Beyond traditional probabilistic methods in economics. Springer, Cham. Doi:10.1007/978-3-030-04200-4.
7. Li, X., Syed, Q. R., & Ahmed, Z. (2024). Green growth, geopolitical risk, and economic policy uncertainty: Evidence from China. Natural Resources Forum, 48(4), 1244-1258. https://doi.org/10.1111/1477-8947.12361.
8. Nguyen, D. T., Le, T., Do, D. D., & Nguyen, H. N. (2023). Does geopolitical risk hinder sustainable development goals? Evidence from a panel analysis. Journal of Environmental Management, 347, 119204. https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2023.119204.
9. Olalere, O. E., & Mukuddem-Petersen, J. (2024). Geopolitical risk, economic policy uncertainty, and bank stability in BRICS countries. Cogent Economics & Finance, 12(1), 2290368.
10. Yıldız, T., Kırmızıoğlu, H., Arslan, Ü., & Çelıköz, Y. S. (2025). Institutional factors and economic policy uncertainty: An asymmetric analysis. Edelweiss Applied Science and Technology, 9(2), 144-159. https://doi.org/10.55214/25768484.v9i2.
| Ngày nhận bài: 9/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/2/2026; Ngày duyệt đăng: 18/3/2026 |
Các tin khác
Chuyển đổi kép trong các nhà máy sản xuất Việt Nam: Ứng dụng tự động hóa và số hóa hướng tới mục tiêu Net Zero
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota
Tác động của môi trường VUCA đến hiệu quả xuất khẩu đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Thu hút vốn FDI xanh của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh mới
Tác động của cơ chế quản lý kinh tế đến phát triển công nghiệp văn hóa tại Quảng Ninh
Hội nhập thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2024
Vai trò của doanh nghiệp trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia: Tiếp cận từ mô hình liên kết Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân



