Phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi toàn cầu
Nguyễn Thị Hiền
Trường Đại học Văn Hiến
Email: [email protected]
Tóm tắt
Bài viết phân tích thực trạng phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam năm 2025 thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, thương mại quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức như phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, áp lực chuyển đổi xanh, năng suất lao động còn hạn chế và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài chưa cao. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển kinh tế tuần hoàn và tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Phát triển bền vững, chuyển đổi toàn cầu, tăng trưởng xanh, chuyển đổi số, Việt Nam
Abstract
This paper examines the state of Viet Nam's sustainable economic development in 2025 through key indicators, including economic growth, macroeconomic stability, international trade, foreign direct investment (FDI) inflows, and economic structural transformation. The findings indicate that Viet Nam has continued to achieve positive economic outcomes. Nevertheless, the economy still faces significant challenges, including heavy reliance on the FDI sector, increasing pressure for a green transition, relatively low labor productivity, and limited resilience to external shocks. Based on these findings, the paper proposes several policy recommendations, including promoting green growth, accelerating digital transformation, improving human capital quality, advancing the circular economy, and strengthening innovation capacity. These measures are expected to support the realization of Viet Nam's sustainable economic development goals in the new development phase.
Keywords: Sustainable development, global transformation, green growth, digital transformation, Viet Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, thế giới đang chứng kiến những chuyển biến sâu sắc về kinh tế, công nghệ, môi trường và xã hội. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, cùng với các cam kết toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính đã tạo ra những thay đổi căn bản trong mô hình tăng trưởng của các quốc gia. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn và yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức mới đối với các nền kinh tế đang phát triển. Đối với Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, mở rộng thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng truyền thống dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công xuất khẩu đang bộc lộ những hạn chế nhất định. Trong bối cảnh chuyển đổi toàn cầu hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải bảo đảm tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường. Năm 2025 đánh dấu một giai đoạn quan trọng khi Việt Nam đạt được nhiều thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế và ổn định vĩ mô. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường khả năng thích ứng với các xu hướng chuyển đổi toàn cầu. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế bền vững và đề xuất các giải pháp phù hợp có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI TOÀN CẦU
Những kết quả đạt được
Trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2025 tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức như tăng trưởng toàn cầu chậm lại, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, biến động địa chính trị và tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Theo số liệu của Cục Thống kê (2026), GDP năm 2025 tăng 8,02% so với năm trước, đưa quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD. Đây là mức tăng trưởng nổi bật không chỉ trong khu vực Đông Nam Á mà còn trong nhóm các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới (Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê, 2026).
Hình 1: Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025
![]() |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ số liệu của Cục Thống kê
Tăng trưởng kinh tế tích cực phản ánh khả năng thích ứng của Việt Nam trước những biến động của môi trường quốc tế, đồng thời tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao năng suất và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh đó, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định với CPI bình quân tăng 3,31%, lạm phát được kiểm soát, góp phần duy trì môi trường đầu tư thuận lợi và củng cố niềm tin của doanh nghiệp.
Hoạt động thương mại quốc tế tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0% so với năm trước và duy trì thặng dư thương mại khoảng 20,03 tỷ USD. Kết quả này cho thấy Việt Nam đã tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, đồng thời từng bước nâng cao tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, chế tạo và sản phẩm công nghệ cao trong cơ cấu xuất khẩu.
Hình 2: Xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 của Việt Nam
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê, 2026
Thu hút FDI của Việt Nam năm 2025 đạt trên 38,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024 (Trong đó: vốn FDI đăng ký mới đạt trên 17,3 tỷ USD, giảm 12,2%; vốn FDI đăng ký điều chỉnh đạt gần 14,07 tỷ USD, tăng 0,8%; vốn FDI góp vốn, mua cổ phần đạt gần 7,03 tỷ USD, tăng 54,8%), vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu bị thu hẹp, Việt Nam thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới (Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê, 2026). Nguồn vốn này không chỉ bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và hỗ trợ quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại khi công nghiệp chế biến, chế tạo và khu vực dịch vụ giữ vai trò động lực tăng trưởng. Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cục Thống kê, 2026). Những kết quả này cho thấy nền kinh tế đang từng bước nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và hướng tới phát triển bền vững.
Hình 3: Cơ cấu kinh tế Việt Nam năm 2025
![]() |
Nguồn: Cục Thống kê, 2026
Những khó khăn và thách thức
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa thực sự đồng đều. Tăng trưởng vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn đầu tư, lao động và khu vực FDI. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp và đổi mới sáng tạo tuy đã được cải thiện nhưng chưa tương xứng với tiềm năng.
Thứ hai, nền kinh tế có độ mở rất lớn với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt hơn 930 tỷ USD, tương đương gần 1,8 lần GDP. Điều này giúp Việt Nam tận dụng tốt cơ hội hội nhập nhưng cũng làm gia tăng mức độ dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài như suy giảm kinh tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng hoặc biến động thị trường tài chính quốc tế.
Thứ ba, áp lực chuyển đổi xanh ngày càng lớn. Nhiều ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày, thép và xi măng đang phải đối mặt với các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt từ các thị trường nhập khẩu lớn. Việc đầu tư công nghệ xanh đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn trong khi nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn.
Thứ tư, năng suất lao động vẫn còn khoảng cách khá xa so với nhiều quốc gia trong khu vực. Chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế số. Mặc dù năng suất lao động và tốc độ tăng đã và đang ngày càng được cải thiện, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, với mức cải thiện như vậy được cho là vẫn còn thấp và có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể, năng suất lao động của nước ta hiện nay ước tính chỉ bằng khoảng 60% Thái Lan, 40% Malaysia và chưa bằng 1/10 so với Singapore... (Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê, 2026).
Thứ năm, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của nước biển dâng, thiên tai cực đoan và suy giảm tài nguyên thiên nhiên. Những yếu tố này không chỉ tác động đến sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế bền vững trong dài hạn. Trong năm 2025, thiên tai làm 489 người chết và mất tích; 800 người bị thương; 386,6 nghìn ha lúa và 174,0 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 7,5 triệu con gia súc và gia cầm bị chết; 340,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong năm 2025 ước tính gần 102.665,3 tỷ đồng, tăng 15,0% so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026).
Nhìn chung, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, Việt Nam vẫn cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi toàn cầu.
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI TOÀN CẦU
Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nền hành chính số và nâng cao chất lượng hoạch định chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, thuận lợi và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ hai, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Tiếp tục đầu tư hạ tầng số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số trong quản trị, sản xuất và kinh doanh, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo, công nghệ sạch và mô hình sản xuất, tiêu dùng bền vững; đồng thời tăng cường sử dụng hiệu quả tài nguyên, tái chế chất thải và thực hiện các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu của nền kinh tế số và kinh tế xanh; chú trọng đào tạo kỹ năng số, kỹ năng đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng lao động.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng. Ưu tiên thu hút các dự án FDI công nghệ cao, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ bảy, phát triển chuỗi cung ứng nội địa và các ngành công nghiệp chiến lược. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI nhằm hình thành chuỗi cung ứng nội địa vững chắc, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài. Đồng thời, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao, đặc biệt là công nghiệp bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo và sản xuất linh kiện, thông qua hoàn thiện cơ chế chính sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đầu tư hạ tầng công nghệ.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, năm 2025 nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02%, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, hoạt động xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài duy trì đà tăng trưởng, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Những kết quả này khẳng định hiệu quả của các chủ trương, chính sách điều hành kinh tế và khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động của môi trường quốc tế. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế bền vững vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức như năng suất lao động chưa cao, sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số ngày càng cấp thiết, cùng với những rủi ro từ biến động kinh tế thế giới. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn, phát triển chuỗi cung ứng nội địa và các ngành công nghiệp chiến lược. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, hướng tới trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Tài liệu tham khảo:
1. Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
2. Cục Thống kê (2026). Kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025: Bứt phá kỷ lục và chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ cao.
3. Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (2026). Những điểm sáng trong bức tranh kinh tế vĩ mô 2025 của nước ta, https://nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/nhung-diem-sang-trong-buc-tranh-kinh-te-vi-mo-2025-cua-nuoc-ta-11825.html.
4. Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (2026). Vai trò của tăng năng suất lao động đối với tăng trưởng kinh tế cao và bền vững ở nước ta trong giai đoạn 2026-2030, https://nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/vai-tro-cua-tang-nang-suat-lao-dong-doi-voi-tang-truong-kinh-te-cao-va-ben-vung-o-nuoc-ta-trong-giai-doan-2026-2030-11924.html.
| Ngày nhận bài: 12/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/7/2026; Ngày duyệt đăng: 3/8/2026 |
Các tin khác
Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh
Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách
Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ
Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững
Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội


