Nghiên cứu đánh giá lợi thế cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam tại Liên minh châu Âu giai đoạn 2015-2024

Kinh tế 16:30 | 15/07/2026 Nguyễn Xuân Đông
Dệt may hiện là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp lớn vào tăng trưởng thương mại và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Trên thị trường quốc tế, Việt Nam cũng là một trong những nước xuất khẩu dệt may hàng đầu, đóng vai trò khá quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nguyễn Xuân Đông (Tác giả liên hệ)

Email: Dongnx@dav.edu.vn

Bùi Minh Hoàng, Lê Quang Tùng,

Doãn Đức Anh, Nguyễn Quốc Huy, Lê Quang Hưng

Khoa Kinh tế quốc tế, Học viện Ngoại giao

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá lợi thế cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam tại Liên minh châu Âu giai đoạn 2015-2024 thông qua chỉ số RCA của Balassa (1965) cho nhóm hàng HS 61, 62, 63, so sánh với Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả cho thấy, Việt Nam duy trì lợi thế so sánh ở nhóm hàng may mặc thành phẩm, song chỉ số này có xu hướng giảm dần. Lợi thế thuế quan từ Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) bị hạn chế bởi quy tắc xuất xứ "2 công đoạn" khi 80%-85% nguyên liệu vải vẫn nhập khẩu ngoài khối, khiến lợi thế cạnh tranh mang tính có điều kiện. Nghiên cứu hàm ý Việt Nam cần nội địa hóa chuỗi cung ứng và đáp ứng tiêu chuẩn xanh của Liên minh châu Âu để tận dụng tối đa cơ hội từ EVFTA.

Từ khóa: Hàng dệt may, lợi thế cạnh tranh, EVFTA, Việt Nam, thị trường EU

Abstract

This study evaluates the competitive advantage of Vietnamese textile and garment products in the European Union during the 2015-2024 period using Balassa's (1965) revealed comparative advantage (RCA) index for HS groups 61, 62, and 63, and compares them with Bangladesh, China, India, and Türkiye. The results indicate that Viet Nam has maintained a comparative advantage in finished garment products; however, the RCA index has declined gradually over time. The tariff advantages provided by the European Union-Viet Nam Free Trade Agreement (EVFTA) are constrained by the “two-stage” rules of origin, as 80%-85% of fabric inputs are still imported from outside the bloc, making the country's competitive advantage conditional. The study suggests that Viet Nam should strengthen supply chain localization and comply with the European Union's green standards to capitalize on the opportunities offered by the EVFTA fully.

Keywords: Textile and garment products, competitive advantage, EVFTA, Viet Nam, European Union market

MỞ ĐẦU

Dệt may hiện là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp lớn vào tăng trưởng thương mại và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Trên thị trường quốc tế, Việt Nam cũng là một trong những nước xuất khẩu dệt may hàng đầu, đóng vai trò khá quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020 mở ra cơ hội lớn tại Liên minh châu Âu (EU) với lộ trình xóa bỏ gần như toàn bộ thuế quan về 0% trong 7 năm. Tuy nhiên, tỷ lệ tận dụng ưu đãi còn hạn chế do quy tắc xuất xứ “2 công đoạn”, khi phần lớn nguyên liệu vải vẫn nhập từ Trung Quốc. Trong bối cảnh Mỹ duy trì thuế đối ứng 20% từ năm 2025, khai thác hiệu quả thị trường EU trở thành yêu cầu chiến lược cấp bách.

Các nghiên cứu trước như Huong và Phuong (2016), Vũ Diệp Anh (2020), Vinh và Phuong (2022) đã sử dụng chỉ số Lợi thế so sánh bộc lộ (Revealed Comparative Advantage - RCA) đánh giá tác động EVFTA, nhưng chưa kết hợp phân tích RCA riêng tại EU với so sánh toàn diện 4 đối thủ cạnh tranh chính trong cùng một khung. Nghiên cứu này sử dụng RCA, dựa trên số liệu ITC Trade Map giai đoạn 2015-2024, giới hạn ở Nhóm HS1: Các loại quần áo và hàng may mặc dệt kim hoặc móc (áo thun, áo len, quần áo thể thao dệt kim, tất, găng tay dệt kim...); Nhóm HS 62: Các loại quần áo và hàng may mặc không dệt kim hoặc móc (như áo sơ mi, áo khoác, quần âu, quần jeans, vest...); Nhóm HS 63: Các mặt hàng dệt đã hoàn thiện khác (chăn ga gối đệm, rèm cửa, khăn trải bàn, túi dệt, lều bạt, và quần áo cũ) và không đi sâu vào phân tích cấp doanh nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chỉ số đo lường lợi thế cạnh tranh và nguồn số liệu

Nghiên cứu sử dụng chỉ số RCA của Balassa (1965) là công cụ đo lường chính. Công thức tính như sau:

- Xij là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng j của quốc giai i.

- Xit là tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia i.

- Xwj​ là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng j của thế giới.

- Xwt​ là tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới.

Khi RCA > 1, quốc gia có lợi thế so sánh bộc lộ; RCA càng cao phản ánh lợi thế càng mạnh. Chỉ số RCA được tính cho Việt Nam và 4 đối thủ cạnh tranh chính tại EU gồm Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ, theo 3 nhóm mã HS 2 chữ số (HS 61, 62, 63) và một số mã HS 4 chữ số tiêu biểu thuộc chương 61-63 cho giai đoạn 2015-2024. Toàn bộ số liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu Trade Map, kết hợp với dữ liệu từ những nguồn thứ cấp khác.

Quy tắc xuất xứ hàng dệt may trong EVFTA

Quy tắc xuất xứ trong EVFTA áp dụng nguyên tắc “2 công đoạn”: vải phải được dệt tại Việt Nam hoặc EU, và sản phẩm may mặc phải được cắt may tại Việt Nam (European Commission, 2020). Điều này có nghĩa doanh nghiệp không thể nhập vải từ Trung Quốc rồi chỉ may tại Việt Nam mà vẫn hưởng ưu đãi thuế. Đây là rào cản đáng kể khi khoảng 80%-85% nhu cầu vải nguyên liệu của Việt Nam vẫn phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Một điểm linh hoạt là EVFTA cho phép cộng gộp xuất xứ với Hàn Quốc (nước có FTA với cả Việt Nam và EU), nghĩa là vải nhập từ Hàn Quốc cũng được tính là đáp ứng quy tắc xuất xứ.

So sánh với các hiệp định khác, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) áp dụng quy tắc “từ sợi trở đi” tức yêu cầu chặt hơn khi sợi cũng phải có xuất xứ nội khối. Ngược lại, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) về cơ bản kế thừa cơ chế xuất xứ tương tự EVFTA với yêu cầu 2 công đoạn, nhưng không còn cộng gộp với Hàn Quốc sau Brexit, làm giảm tính linh hoạt. Vì vậy, EVFTA vừa là cơ hội thuế quan, vừa là sức ép buộc ngành phải phát triển khâu dệt, nhuộm, hoàn tất và quản trị xuất xứ. Trong khi đó, Bangladesh và được hưởng cơ chế EBA (Everything But Arms) vào EU với thuế 0% mà hoàn toàn không bị ràng buộc bởi quy tắc xuất xứ phức tạp, đây là lợi thế cạnh tranh thể chế rõ ràng mà Việt Nam không có.

Từ góc độ chính sách trong nước, Chiến lược phát triển ngành dệt may và da giày đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035 làm rõ yêu cầu gắn tận dụng hiệp định thương mại tự do (FTA) với phát triển nguyên phụ liệu và nâng tỷ lệ nội địa hóa; đặt mục tiêu riêng cho dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu 50-52 tỷ USD năm 2025 và 68-70 tỷ USD năm 2030, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa từ 51%-55% giai đoạn 2021-2025 lên 56%-60% giai đoạn 2026-2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Vì vậy, quy tắc xuất xứ trong EVFTA không chỉ là điều kiện kỹ thuật thương mại mà còn là áp lực chính sách để phát triển dệt, nhuộm, hoàn tất và công nghiệp hỗ trợ trong nước.

TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM VÀ XU HƯỚNG XUẤT KHẨU

Vị thế ngành

Dệt may là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành ước đạt 46 tỷ USD, tăng khoảng 5% so với năm 2024 (Anh Thơ, 2025). Xét trên bình diện quốc tế, Việt Nam hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới, với các thị trường trọng điểm như Mỹ và EU. Ngành hiện tạo việc làm cho khoảng 3 triệu lao động, đóng vai trò quan trọng về cả kinh tế lẫn xã hội.

Xu hướng xuất khẩu và vai trò của EVFTA

Giai đoạn 2015-2024, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam tăng trưởng bình quân khoảng 5,1%/năm. Năm 2020-2021 ghi nhận sụt giảm do COVID-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng và thu hẹp nhu cầu tại các thị trường chủ lực. Bước ngoặt quan trọng là sự phục hồi mạnh năm 2022 sau khi EVFTA có hiệu lực từ tháng 8/2020, phản ánh tác động tích cực của lộ trình cắt giảm thuế quan. Năm 2023 xuất khẩu giảm trở lại do lạm phát tại Mỹ và châu Âu làm suy yếu sức cầu, trước khi phục hồi về 35,5 tỷ USD năm 2024 (Bảng 1).

Bảng 1: Xu hướng xuất khẩu dệt may Việt Nam nhóm HS 61, 62, 63 (2015-2024)

Năm

XK dệt may

(tỷ USD)

Tổng XK VN (tỷ USD)

Tỷ trọng

(%)

Xuất khẩu sang EU

(tỷ USD)

2015

22,8

162,0

14,1%

2,9

2016

23,8

176,6

13,5%

3,0

2017

25,9

214,0

12,1%

3,2

2018

29,7

243,5

12,2%

3,6

2019

31,9

264,3

12,1%

3,7

2020

30,2

282,6

10,7%

3,7

2021

31,4

336,2

9,3%

3,5

2022

36,1

371,9

9,7%

4,6

2023

32,0

355,5

9,0%

4,0

2024

35,5

405,5

8,8%

4,5

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa theo số liệu từ Trade Map

Đặc điểm cơ cấu và điểm nghẽn cạnh tranh

Dù đứng top 3 thế giới về xuất khẩu, ngành dệt may Việt Nam mang đặc điểm “mạnh đầu ra, yếu đầu vào”, thể hiện qua 2 điểm nghẽn cơ cấu quan trọng. Thứ nhất, phần lớn nhu cầu vải nguyên liệu phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc). Sự phụ thuộc này trực tiếp cản trở khả năng đáp ứng quy tắc xuất xứ “2 công đoạn” của EVFTA, vốn yêu cầu vải phải có xuất xứ từ Việt Nam hoặc EU. Thứ hai, khoảng 65%-70% doanh nghiệp vẫn hoạt động theo mô hình gia công truyền thống (Cut-Make-Trim - CMT) với giá trị gia tăng thấp, xuất khẩu theo phương thức FOB chỉ khoảng 25% và chỉ có 10% xuất khẩu theo phương thức ODM. Những hạn chế này khiến lợi thế thuế quan từ EVFTA mang tính có điều kiện và chỉ những doanh nghiệp đáp ứng được quy tắc xuất xứ mới có thể chuyển hóa ưu đãi thành lợi thế cạnh tranh thực tế tại EU.

LỢI THẾ CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG EU

Xu hướng lợi thế cạnh tranh

Hình: Chỉ số RCA của dệt may Việt Nam theo nhóm HS giai đoạn 2015-2024

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa theo số liệu từ Trade Map

Số liệu (Hình) cho thấy, chỉ số RCA của dệt may Việt Nam theo 3 nhóm hàng HS 61, 62, 63 giai đoạn 2015-2024. Việt Nam duy trì lợi thế so sánh bộc lộ (RCA > 1) ở cả 3 nhóm hàng trong suốt giai đoạn, song xu hướng chung là giảm dần. Điều này phản ánh quá trình đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, là một tín hiệu tích cực dù đồng thời cho thấy lợi thế so sánh truyền thống đang bị thu hẹp.

HS 62 (quần áo dệt thoi) là nhóm có lợi thế mạnh nhất và bền vững nhất, với RCA đạt 5,26 năm 2015 và duy trì ở mức 4,00 năm 2024. Đáng chú ý, sau khi EVFTA có hiệu lực, RCA của HS 62 phục hồi từ 3,85 (2021) lên 4,28 (2022), phản ánh hiệu ứng chuyển dịch đơn hàng trong bối cảnh “China+1”. HS 61 (dệt kim) cũng duy trì lợi thế rõ (RCA 3,58 năm 2024) nhưng giảm liên tục từ 4,69 năm 2015. Riêng HS 63, RCA giảm từ 2,27 xuống 1,52, đang tiệm cận ngưỡng mất lợi thế so sánh, đặt ra yêu cầu cải thiện năng lực cạnh tranh ở phân khúc này.

Bảng 2: Chỉ số RCA mã HS 62 của Việt Nam, năm 2015-2024

Năm

Việt Nam

Trung Quốc

Ấn Độ

Thổ Nhĩ Kỳ

Bangladesh

2015

5,26

2,59

2,67

3,10

32,65

2016

4,89

2,55

2,58

3,09

31,93

2017

4,51

2,55

2,39

2,98

31,74

2018

4,86

2,37

2,07

3,09

34,43

2019

4,59

2,14

2,07

3,05

33,44

2020

4,02

2,04

1,88

3,30

33,75

2021

3,85

1,97

1,76

3,16

34,46

2022

4,28

2,03

1,78

3,17

36,00

2023

4,14

2,00

1,73

3,00

37,56

2024

4,00

1,83

1,79

2,72

37,71

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa theo số liệu từ Trade Map

Bảng 2 trình bày chỉ số RCA nhóm HS 62 của 5 quốc gia giai đoạn 2015-2024. Bangladesh duy trì lợi thế áp đảo và liên tục tăng, từ 32,65 (năm 2015) lên 37,71 (năm 2024). Điều này phản ánh mức độ chuyên môn hóa cực cao của Bangladesh vào dệt may, được hỗ trợ bởi cơ chế EBA (Everything But Arms) cho phép xuất khẩu vào EU với thuế 0% mà không bị ràng buộc quy tắc xuất xứ, đây là lợi thế thể chế mà Việt Nam không có.

Việt Nam duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm đối thủ xét về RCA ở HS 62, vượt trội so với Trung Quốc (1,83), Ấn Độ (1,79) và Thổ Nhĩ Kỳ (2,72) vào năm 2024. Tuy nhiên, khoảng cách với Thổ Nhĩ Kỳ đang thu hẹp dần, đặc biệt đáng chú ý khi Thổ Nhĩ Kỳ có lợi thế địa lý gần EU, thời gian giao hàng ngắn hơn đáng kể và được hưởng Liên minh Thuế quan với EU từ năm 1996. Trung Quốc và Ấn Độ có RCA thấp hơn Việt Nam, phản ánh cơ cấu xuất khẩu đa dạng hơn, nhưng cả 2 đều không có FTA với EU.

Bảng 3: Tóm tắt chỉ số RCA Việt Nam theo mã HS 4 chữ số tiêu biểu giai đoạn 2015-2024

Mã HS

Mô tả

2015-2017

2018-2020

2021-2024

TB 2015-2024

6110

Áo khoác len, áo pullover, cardigan...

5,08

4,72

3,75

4,44

6104

Vest, đầm, váy nữ dệt kim...

5,64

5,75

4,57

5,25

6109

Áo phông, áo thun dệt kim...

4,10

3,82

3,20

3,66

6204

Vest, đầm, quần âu nữ dệt thoi...

4,27

3,56

3,07

3,58

6203

Vest, quần âu, quần short nam dệt thoi...

5,00

4,21

4,03

4,38

6201

Áo khoác nam dệt thoi

9,31

8,26

6,67

7,94

6307

Hàng dệt may gia dụng khác…

3,93

2,78

1,87

2,76

6305

Bao bì, túi dệt công nghiệp

5,84

6,01

6,18

6,03

6302

Khăn trải giường, khăn bàn, khăn tắm...

1,03

1,04

0,93

0,99

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa theo số liệu từ Trade Map

Bảng 3 tổng hợp RCA Việt Nam theo các mã HS 4 chữ số tiêu biểu qua 3 giai đoạn. Kết quả cho thấy, Việt Nam duy trì lợi thế so sánh rõ ràng (RCA ≥ 2) ở hầu hết các mã HS 61 và HS 62 trong suốt giai đoạn. Nổi bật nhất là mã 6201 (áo khoác nam dệt thoi) với RCA trung bình cả giai đoạn đạt 7,94, là mức cao nhất trong tất cả các mã phân tích, phản ánh mức độ chuyên môn hóa sâu của Việt Nam trong phân khúc outerwear cao cấp cho các thương hiệu EU. Tiếp theo là mã 6305 (bao bì dệt công nghiệp) với RCA trung bình 6,03 và xu hướng tăng nhẹ (5,84 → 6,18), là ngoại lệ tích cực khi hầu hết các mã khác đều giảm theo thời gian.

Xu hướng giảm RCA qua các giai đoạn là đặc điểm chung, với giai đoạn 2021-2024 thấp hơn đáng kể so với 2015-2017 ở hầu hết các mã. Mã 6302 (khăn trải giường, khăn tắm) là mã duy nhất có RCA xoay quanh mức 1,0 trong cả giai đoạn, cho thấy Việt Nam chưa có lợi thế cạnh tranh trong phân khúc hàng dệt gia dụng, lĩnh vực mà Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ có lợi thế vượt trội hơn.

Các biện pháp rào cản phi thuế quan đối với hàng dệt may Việt Nam

Bên cạnh rào cản xuất xứ, hàng dệt may Việt Nam còn đối mặt với hệ thống rào cản phi thuế quan ngày càng khắt khe tại EU.

Về tiêu chuẩn kỹ thuật và hóa chất. Quy định REACH về hóa chất và sử dụng an toàn hóa chất - cấm sử dụng hơn 1.000 loại hóa chất trong sản phẩm dệt may. Các chứng nhận như OEKO-TEX (Chứng nhận an toàn dệt may) và Eco Label (nhãn sinh thái) ngày càng trở thành điều kiện thực tế để tiếp cận phân khúc trung và cao cấp, trong khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn sử dụng hóa chất nhập từ Trung Quốc chưa đáp ứng tiêu chuẩn này.

Về tiêu chuẩn lao động và trách nhiệm xã hội. Chỉ thị thẩm định tính bền vững doanh nghiệp (CSDDD) của EU yêu cầu doanh nghiệp chứng minh toàn bộ chuỗi cung ứng không vi phạm quyền lao động và tiêu chuẩn xã hội. Điều này đòi hỏi mức độ minh bạch và truy xuất nguồn gốc cao hơn nhiều so với năng lực quản trị hiện tại của phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt ở các khâu gia công thầu phụ.

Về yêu cầu bền vững và tuần hoàn. Chiến lược Dệt may bền vững và tuần hoàn của EU đặt mục tiêu đến năm 2030 tất cả sản phẩm phải bền hơn, có khả năng tái chế cao hơn và được sản xuất tôn trọng môi trường. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí xuất khẩu nếu quá trình sản xuất, đặc biệt ở khâu dệt, nhuộm, vẫn có mức phát thải cao. Yêu cầu Hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số (Digital Product Passport - hồ sơ điện tử chứa toàn bộ thông tin về vòng đời sản phẩm) dự kiến trước 2030 sẽ buộc doanh nghiệp phải số hóa toàn bộ thông tin sản phẩm, thách thức lớn với ngành còn phụ thuộc nhiều vào mô hình gia công truyền thống CMT.

Có thể thấy, rào cản phi thuế quan tại EU đang chuyển dịch từ tiêu chuẩn kỹ thuật đơn thuần sang hệ thống yêu cầu tích hợp về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), tạo áp lực tái cơ cấu sâu rộng đối với ngành dệt may Việt Nam.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Đối với Nhà nước: Chính sách cần tập trung vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, nhất là dệt, nhuộm, hoàn tất và phụ liệu. Cần có khu công nghiệp dệt - nhuộm có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, cơ chế chọn lọc dự án công nghệ cao và hỗ trợ tín dụng xanh cho doanh nghiệp đổi mới thiết bị. Bên cạnh đó, cần tăng cường đào tạo kỹ năng cho lao động, hỗ trợ doanh nghiệp hiểu quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn bền vững và các quy định mới của EU.

Nghị quyết số 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Chính phủ, 2026) bổ sung một hướng tiếp cận thực thi rất quan trọng: cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và chuyển tư duy quản lý từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Với ngành dệt may, tinh thần này có thể cụ thể hóa bằng việc đơn giản hóa thủ tục chứng nhận xuất xứ, số hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc, cung cấp cảnh báo sớm về rào cản kỹ thuật tại EU và tạo điều kiện thuận lợi hơn để doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, hạ tầng khu công nghiệp và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đối với doanh nghiệp: Cần ưu tiên hàng đầu là coi quy tắc xuất xứ như một điều kiện chiến lược, không chỉ là thủ tục chứng nhận. Doanh nghiệp cần tái cấu trúc nguồn cung nguyên liệu, tăng sử dụng vải trong nước hoặc nguồn được phép cộng gộp, đồng thời xây dựng hệ thống lưu trữ chứng từ, dữ liệu nhà cung ứng và truy xuất nguồn gốc theo chuẩn EU. Cùng với đó, cần giảm phụ thuộc vào gia công truyền thống CMT, mở rộng FOB, ODM và năng lực phát triển sản phẩm để nâng tỷ lệ giá trị gia tăng.

Doanh nghiệp cũng cần đầu tư vào sản xuất xanh, tiết kiệm năng lượng, quản trị hóa chất, chứng nhận môi trường và cơ chế báo cáo minh bạch. Đây không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là cách tạo khác biệt tại thị trường EU. Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giải pháp khả thi là liên kết theo cụm, dùng chung dịch vụ kiểm định, tư vấn xuất xứ, nền tảng truy xuất và hạ tầng xử lý môi trường.

Tóm lại, EVFTA đã mở ra cơ hội lớn cho dệt may Việt Nam tại EU, nhưng lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ hình thành khi ưu đãi thuế quan được kết hợp với năng lực nội địa hóa, chuỗi cung ứng minh bạch và tiêu chuẩn xanh. Việt Nam không nên chỉ tận dụng EVFTA như một công cụ giảm thuế, mà cần coi hiệp định này là động lực để nâng cấp toàn bộ mô hình cạnh tranh của ngành.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh Thơ (2025). Xuất khẩu dệt may cán mốc 46 tỷ USD trong năm 2025. https://baochinhphu.vn/xuat-khau-det-may-can-moc-46-ty-usd-trong-nam-2025-10225122311302171.htm

2. Balassa, B. (1965). Trade liberalisation and revealed comparative advantage. The Manchester School, 33(2), 99-123.

3. Chính phủ (2026). Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 8/1/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.

4. European Commission (2020). EU-Viet Nam Free Trade Agreement: Rules of origin and textile commitments. Brussels.

5. Huong, V., and Phuong, N. (2016). Assessing the sectoral impact of the Vietnam-EU Free Trade Agreement: Utilizing trade indices. VNU Journal of Economics and Business, 32(3), 28-38.

6. International Trade Centre (2025). Trade Map: Trade statistics for international business development [Data set]. https://www.trademap.org

7. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 1643/QĐ-TTg ngày 29/12/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành dệt may và da giày Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035.

8. Vinh, D. Q., and Phuong, L. H. (2022). Determinants of the export efficiency of Vietnam’s textiles and garments to EU countries - A stochastic frontier gravity approach. Asian Economic and Financial Review, 12(8), 722-730.

9. Vũ Diệp Anh (2020). Lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam. Tạp chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/loi-the-so-sanh-cua-nganh-det-may-viet-nam-73432.htm

Ngày nhận bài: 6/5/2025; Ngày hoàn thiện biên tập: 30/6/2026; Ngày duyệt đăng: 10/7/2026

Các tin khác

Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo trong định giá căn hộ: Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo trong định giá căn hộ: Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh thị trường bất động sản tại TP. Hồ Chí Minh đang trải qua nhiều biến động, việc thẩm định giá căn hộ trở thành một nhu cầu cấp thiết, đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo tính minh bạch, ổn định và hiệu quả cho các giao dịch.
Bao trùm tài chính số và khả năng chống chịu tài chính của hộ gia đình: Vai trò của tiết kiệm chính thức và bằng chứng từ Global Findex

Bao trùm tài chính số và khả năng chống chịu tài chính của hộ gia đình: Vai trò của tiết kiệm chính thức và bằng chứng từ Global Findex

Nghiên cứu phân tích tác động của bao trùm tài chính số (Digital Financial Inclusion, DFI) đến năng lực dự phòng tài chính và vai trò trung gian của tiết kiệm chính thức ở cấp độ quốc gia. Kết quả cho thấy, các kiểm định độ vững xác nhận rằng tác động của DFI đến khả năng chống chịu tài chính chủ yếu được truyền dẫn thông qua việc thúc đẩy tiết kiệm chính thức.
Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đa dạng hóa thị trường và đối tác kinh tế đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam
Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và hàm ý chính sách

Xuất khẩu hàng hoá Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Thực trạng và hàm ý chính sách

Xuất khẩu hàng hóa đã khẳng định vị thế là trụ cột then chốt, đóng vai trò "động lực tăng trưởng" có tính lan tỏa cao, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy GDP và duy trì sự ổn định vĩ mô.
Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Đề xuất Khung lý thuyết nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu dưới tác động của các vấn đề toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Kết quả là, sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu không còn chỉ được quyết định bởi hiệu quả chi phí, lợi thế lao động hay năng lực sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng thích ứng của các doanh nghiệp với những áp lực toàn cầu mới nổi liên quan đến tính bền vững, khả năng phục hồi, tính minh bạch và năng lực số.
Đánh giá tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp của Việt Nam và so sánh với một số quốc gia ASEAN

Đánh giá tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp của Việt Nam và so sánh với một số quốc gia ASEAN

Nghiên cứu làm rõ ý nghĩa của chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong đánh giá chất lượng tăng trưởng cũng như sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Dựa trên dữ liệu trong các Báo cáo năng suất của Tổ chức năng suất châu Á (APO) hàng năm, nghiên cứu phân tích sự biến động TFP của Việt Nam và so sánh với một số quốc gia ASEAN qua các giai đoạn, đồng thời phân tích các nguyên nhân của sự biến động đó.
Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trong không gian hành chính mới vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trong không gian hành chính mới vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế - sinh thái đặc biệt quan trọng của Việt Nam, giữ vai trò then chốt trong an ninh lương thực, xuất khẩu nông sản, thủy sản và phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, đây cũng là vùng chịu tác động mạnh nhất từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sụt lún, xói lở bờ sông - bờ biển, thiếu hụt phù sa và suy giảm đa dạng sinh học.
Hài hòa mục tiêu phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường thông qua mô hình khu công nghiệp sinh thái

Hài hòa mục tiêu phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường thông qua mô hình khu công nghiệp sinh thái

Trong bối cảnh hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, mô hình khu công nghiệp sinh thái đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 1990 như một giải pháp nhằm hài hòa giữa mục tiêu phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường.
Nghiên cứu tổng quan ngành công nghiệp chip bán dẫn tại Việt Nam và đề xuất chính sách phát triển

Nghiên cứu tổng quan ngành công nghiệp chip bán dẫn tại Việt Nam và đề xuất chính sách phát triển

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, ngành công nghiệp bán dẫn trở thành nền tảng ngày càng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu

Dưới tác động của làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng không chỉ gia tăng về mặt số lượng mà còn dịch chuyển mạnh mẽ sang các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử và năng lượng sạch, khẳng định vị thế là "cứ điểm" sản xuất chiến lược của khu vực.