Tác động của robot công nghiệp đến vốn nhân lực: Bằng chứng từ ngành chế biến, chế tạo ở Việt Nam
Trịnh Thị Thu Hằng
Email: [email protected]
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Hoàng Trọng Nghĩa
Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dựa trên dữ liệu về robot việc nhập khẩu và sử dụng robot của Việt Nam trong giai đoạn 2014-2024 kết hợp cùng quy mô ngành kinh tế, đặc điểm của người lao động thu thập được từ UN Comtrade, World Bank và ILOSTAT. Qua đo lường mức độ thâm dụng robot theo thời gian, đánh giá mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng robot công nghiệp và đặc điểm của vốn nhân lực theo giới, nhóm tuổi và trình độ học vấn, kết quả cho thấy, mức độ tăng trưởng robot tại Việt Nam phát triển mạnh từ năm 2017 và đến năm 2024 đạt mức tăng gấp 8 lần so với năm 2014. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ngành chế biến chế tạo có mối quan hệ tích cực với cường độ tăng trưởng robot. Mức tăng trưởng robot cao hơn gắn liền với mức tăng trưởng việc làm và tiền lương theo giờ, với mức tăng đều cả ở nam giới và nữ giới, tuy nhiên tập trung nhiều hơn ở nhóm người lao động trung niên và lớn tuổi. Kết quả cho thấy, việc sử dụng robot tại Việt Nam còn đang theo mô hình tự động hóa một phần, chưa tạo ra sự dịch chuyển việc làm lớn trên toàn diện nền kinh tế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của vốn nhân lực và tự động hóa trong nền kinh tế, qua đó nâng cao năng suất lao động quốc gia.
Từ khóa: Robot, chế biến chế tạo, tự động hóa, vốn nhân lực, tiền lương
Summary
The study employs a regression model based on data on robot imports and utilization in Viet Nam during the 2014-2024 period, combined with industry size indicators and workforce characteristics collected from UN Comtrade, World Bank, and ILOSTAT. By measuring robot intensity over time and examining the relationship between the growth of industrial robots and human capital characteristics by gender, age group, and educational attainment, the results indicate that robot adoption in Viet Nam accelerated significantly from 2017 onward, reaching a level in 2024 eight times higher than that recorded in 2014. The study further indicates that the manufacturing sector is positively associated with the intensity of robot growth. Higher robot growth is associated with increases in employment and hourly wages, with gains observed for both men and women; however, these effects are more pronounced among middle-aged and older workers. The findings indicate that robot adoption in Viet Nam remains at the stage of partial automation and has not yet led to significant job displacement across the overall economy. Based on these results, the study proposes several solutions and policy recommendations to promote the development of human capital alongside automation, thereby enhancing national labor productivity.
Keywords: Robots, manufacturing, automation, human capital, wages.
GIỚI THIỆU
Trong những thập kỷ vừa qua, tự động hóa cùng với sự tăng trưởng đối với các loại hình obots trên phạm vi toàn cầu đóng vai trò quan trọng trong năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và ngành nghề. Theo Liên đoàn Robot Quốc tế (IFR), tổng số robot công nghiệp đang vận hành trong các nhà máy trên toàn cầu đạt khoảng 4,66 triệu robot vào năm 2024, tăng 9% so với năm 2023. Trong năm 2024, khoảng 542.000 robot đã được lắp đặt mới, trong đó châu Á chiếm 74%, tập trung chủ yếu tại các thị trường công nghiệp hóa lớn như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Xu hướng này cho thấy nhu cầu ngày càng lớn của doanh nghiệp trong quá trỉnh nâng cao năng suất hoạt động, mở rộng quy mô sản xuất, ổn định chất lượng dựa trên đồng nhất bộ máy tự động hóa trong bối cảnh dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu như hiện nay. Tỷ lệ tăng trưởng này có sự tập trung chủ đạo vào một số ngành, đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Theo báo cáo của World Robotics (2024), robot được triển khai chủ yếu trong các ngành có mức độ tiêu chuẩn hóa cáo và quy trình sản xuất phù hợp với tự động hóa, như các ngành điện, ô tô cùng các nhóm kim loại như máy móc. Việc phân hóa rõ rệt đối với các ngành có tỷ trọng sử dụng robot cao cho thấy các nền kinh tế tập trung vào mảng chế biến, chế tạo với mức độ hội nhập thương mại sâu thường chịu áp lực lớn hơn trong việc nâng cấp công nghệ. Trong đó, robot có ưu thế lớn về chất lượng, tốc độ, sự đồng đều của quy trình khi công nghệ ngày tích hợp ngày càng được nâng cao dẫn đến robot cũng được cải tiến để đảm nhiệm các nhiệm vụ phức tạp hơn.
Nghiên cứu gần đây của World Bank (2024) chỉ ra rằng, việc áp dụng robot, trí tuệ nhân tạo (AI) và nền tảng số đang tái định hình việc làm và năng suất lao động, khi công nghệ mới hiện nay đang góp phần tạo ra và thúc đẩy các việc làm mới, nhưng vẫn cần cải tiến liên tục các kỹ năng để đảm bảo duy trì và tích hợp được công nghệ mới. World Bank (2024) cũng chỉ ra bối cảnh cấp thiết trong việc Việt Nam cần đổi mới, nâng cấp mô hình kinh tế tăng trưởng gắn với tỷ trọng xuất khẩu chế tạo chiếm ưu thế. Báo cáo cũng nhấn mạnh việc hiện nay quy mô kinh tế vẫn dựa vào thâm dụng lao động và giá trị gia tăng còn hạn chế sẽ không đủ sức bật tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo. Do đó, phân tích về mối quan hệ của robot trong ngành chế biến chế tạo gắn với người lao động, việc làm, năng suất lao động có vai trò quan trọng để đánh giá được các động lực và hệ quả của thực trạng sử dụng robot đối với vốn nhân lực tại Việt Nam hiện nay.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Quá trình gia tăng việc nhập khẩu các thiết bị tự động hóa và robot của các quốc gia được xem là một nguồn lực quan trọng thể hiện những bước tiến của chuyển giao công nghệ, áp dụng tự động hóa trong quá trình hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Báo cáo của IRF (2025) về số lượng robot công nghiệp cho thấy, năm 2024 số robot được lắp đặt đạt 542.000 robot, nhiều gấp đôi so với 2014. Trong đó Châu Á chiếm đến 74% số robot lắp đặt mới, trong khi Châu Âu chỉ chiếm 16% và Châu Mỹ chiếm 9%.
Trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển chủ yếu là bên tiếp nhận công nghệ thì việc nhập khẩu robot như một hình thức nhập khẩu tư liệu sản xuất mới có khả năng khuếch tán và thúc đẩy công nghệ mới, nâng chuẩn kỹ thuật và cấu trúc cạnh tranh ngành, đặc biệt là ngành sản xuất - chế biến - chế tạo.
Nghiên cứu của Cugat và Manera (2024) nhấn mạnh vai trò của thương mại là một kênh chủ đạo trong việc lan tỏa công nghệ giữa các nền kinh tế. Trong khi đó, nghiên cứu của Mitra và Sharma (2025) chỉ ra rằng, sự gia tăng việc nhập khẩu công nghệ sẽ tạo ra hiệu ứng cạnh tranh và tái phân bổ giữa các doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp hấp thụ công nghệ tốt hơn sẽ có khả năng mở rộng quy mô sản xuất và hiệu suất chung, trong khi các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ có khả năng bị thu hẹp quy mô và phá sản trước bối cảnh cạnh tranh mới.
Robot giúp gia tăng năng suất và giảm chi phí biên, cải thiện chất lượng và ổn định đầu ra. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi thị trường đầu ra đủ lớn thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản lượng và giúp gia tăng nhu cầu lao động ở các quá trình bổ trợ như vận hành, bảo trì, kiểm soát chất lượng, logistic và quản trị sản xuất. Theo báo cáo của World Bank (2025), tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, khi robot tạo ra tính khả thi về mặt kinh tế, việc áp dụng robot có thể đi kèm với việc gia tăng các việc làm chế tạo do hiệu ứng năng suất và mở rộng quy mô bù đắp cho phần dịch chuyển lao động.
Báo cáo của Asian Development Bank năm 2025 khảo sát tại khu vực Hàn Quốc chỉ ra rằng việc gia tăng sử dung robot trong các nhà máy dẫn đến việc cải thiện hiệu suất doanh nghiệp, đồng thời làm tăng nhu cầu tuyển dụng lao động có kỹ năng cao hơn.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng robot hóa cũng làm suy giảm nhu cầu sử dụng thông qua hiệu ứng thay thế, đặc biệt là đối với các công việc lặp lại trong các ngành chế biến, chế tạo. Điều này dẫn đến việc dịch chuyển việc làm trên quy mô lớn và gây áp lực đối với nguồn lao động có kỹ năng thấp. Nghiên cứu gần đây của Chen và Frey (2024) đã chỉ ra rằng, tác động của việc áp dụng robot đối với việc làm trong khu vực chế biến chế tạo giảm ở một số bối cảnh nhất định, tuy nhiên tác động lên tổng thể việc làm thường không đồng nhất. Trong khi đó, nghiên cứu của Cortés và cộng sự (2024) chỉ ra rằng, tự động hóa làm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu việc làm giữa các nhóm nhiệm vụ và nhóm lao động.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2014-2024, nhằm đo lường mức độ tăng trưởng robot và đánh giá mối liên hệ của sự tăng trưởng này với các chỉ tiêu kinh tế gắn với vốn nhân lực. Nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận thông qua thương mại quốc tế bằng cách sử dụng dữ liệu về nhập khẩu robot được thu thập từ UN Comtrade, theo mã HS 8479, từ đó mô tả xu hướng nhập khẩu robot và đồng thời xây dựng chỉ số liên quan đến cường độ nhập khẩu robot. Các biến về quy mô kinh tế được thu thập dữ liệu từ World Bank bao gồm GDP và giá trị gia tăng trưởng ngành chế biến chế tạo theo USD. Bên cạnh đó, các chỉ số liên quan đến vốn nhân lực, nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ ILOSTAT, bao gồm việc làm, tiền lương theo giờ, theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn.
Cường độ nhập khẩu robot theo lao động được xác định như sau:
![]() |
Trong đó: RobotIntensityt là tổng số lượng robot nhập khẩu trong năm t, Employeest là tổng số người có việc làm từ 15 tuổi trở lên. Chỉ số có đơn vị robot trên mỗi 10.000 lao động thể hiện mức độ thâm dụng robot tương đối theo thời gian. Mối liên hệ giữa robot hóa và kết quả nguồn vốn nhân lực được ước lượng bằng hồi quy theo dạng log tuyến tính, với biến phụ thuộc là log của kết quả lao động và biến giải thích chính là log của chỉ số cường độ robot. Theo đó, hồi quy việc làm được ước lượng như sau:
![]() |
Hồi quy tiền lương theo giờ:
![]() |
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Xu hướng sử dụng robot đối với ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam
Hình 1 mô tả xu hướng nhập khẩu robot của Việt Nam tăng mạnh từ sau năm 2017. Trong đó, giai đoạn 2014-2016 quy mô nhập khẩu còn tương đối thấp với số lượng dao động khoảng 833-1.262 chiếc/năm, với giá trị khoảng 12,3-21,6 triệu USD/năm. Từ năm 2017, nhập khẩu robot tăng nhanh cả về số lượng và giá trị. Với số lượng tăng lên 3.249 chiếc (năm 2017) và tiếp tục tăng đến mức 6.939 chiếc vào năm 2019. Giai đoạn 2020-2024 cho thấy, một số biến động lớn từ do ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, giãn cách xã hội và khủng hoảng kinh tế. Năm 2020 Việt Nam bắt đầu bị tác động từ đại dịch, nhập khẩu suy giảm so với 2019, số lượng giảm từ 6.939 xuống 5.638 chiếc với giá trị giảm từ 89,4 xuống 47,0 triệu USD. Tuy nhiên, nhập khẩu phục hồi nhanh trong năm 2021 do Chính phủ Việt Nam kiểm soát tốt dịch COVID-19, đưa ra các chính sách thúc đẩy kinh tế, sản xuất do đó với số lượng nhập khẩu tăng trưởng mạnh đạt mức cao nhất trong toàn giai đoạn với 8.449 chiếc. Sau đó, năm 2022 duy trì quy mô cao trong khi năm 2023 có xu hướng giảm xuống, và năm 2024 phục hồi trở lại. Qua đó cho thấy, trong hơn một thập kỷ từ 2014-2024, số lượng nhập khẩu tăng từ 954 lên 7.308 chiếc, gấp khoảng 7,7 lần (tăng trưởng tương đương 22,6%/năm), trong khi giá trị nhập khẩu tăng từ 17,2 lên 83,1 triệu USD, gấp gần 5 lần.
Bên cạnh đó, giá trị nhập khẩu và số lượng nhập khẩu có sự khác biệt về mức tăng trưởng ở một số năm cho thấy sự thay đổi về cơ cấu, chủng loại và công nghệ robot. Giá trị bình quân trên mỗi robot dao động từ khoảng 7.000 USD đến 18.000 USD/ robot. Qua đó cho thấy xu hướng ứng dụng robot trong thời gian qua không chỉ mở rộng về quy mô mà còn mở rộng cả về phân khúc công nghệ, sự đa dạng tác vụ trong đa dạng các ngành nghề.
Hình 1: Xu hướng nhập khẩu robot tại Việt Nam giai đoạn 2014-2024
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade
Trong giai đoạn 2014-2024, mức độ tăng trưởng GDP từ 233,5 tỷ USD lên 476,4 tỷ USD, gấp khoảng 2 lần. Trong khi đó, giá trị gia tăng của ngành chế biến, chế tạo tăng từ 47,6 tỷ USD đến 116,4 tỷ USD, gấp khoảng 2,4 lần. Qua đó cho thấy mức độ tăng trưởng mạnh của ngành chế biến chế tạo, đóng góp vai trò quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế, làm gia tăng như cầu nâng cao năng suất, đáp ứng tiến độ sản xuất trong bối cảnh số hóa hiện nay.
Hình 2 cho thấy, cường độ nhập khẩu robot được đo lường theo GDP và giá trị gia tăng của ngành chế biến chế tạo. Theo đó, đối với ngành chế biến chế tạo, cường độ nhập khẩu robot tăng từ khoảng 20,1 lên 62,8 robot trên mỗi 1 tỷ USD giá trị gia tăng, tương đương tăng khoảng 3,1 lần, trong khi đó với GDP là tăng khoảng 3,7 lần.
Hình 2: Cường độ nhập khẩu robot ở Việt Nam giai đoạn 2014-2024
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade, ILOSTAT, Worldbank
Các yếu tố kinh tế và kỹ thuật đối với doanh nghiệp trong việc áp dụng robot
Xu hướng sử dụng robot trong công nghiệp tiếp tục tăng trưởng mạnh trong các ngành sản xuất với sự phát triển cả về năng suất, chất lượng và khả năng đáp ứng chuỗi cung ứng. Đối với các doanh nghiệp, quyết định đầu tư robot có xu hướng xuất phát đồng thời từ động cơ kỹ thuật và động cơ kinh tế.
Các nghiên cứu ở cấp doanh nghiệp cho thấy các công nghệ tự động hóa, trong đó có robot, không chỉ được sử dụng để tự động hóa một số nhiệm vụ trước do lao động đảm nhiệm, mà còn nhằm nâng cấp quy trình, thay thế thiết bị lạc hậu và cải thiện độ ổn định, chất lượng của quá trình sản xuất. Trong nhiều trường hợp, động cơ cải thiện chất lượng và độ tin cậy của quy trình là vai trò phổ biến nhất. Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng robot có thể thay thế lao động trong các nhiệm vụ lặp lại, làm giảm cầu lao động ở một số nhóm nghề, nhưng đồng thời làm giảm chi phí sản xuất, nâng năng suất và mở rộng quy mô, từ đó tạo thêm cầu lao động ở các khâu bổ trợ và nhiệm vụ mới. Như nghiên cứu của Chen và Frey (2024) cho thấy, xu hướng giảm việc làm trong chế biến, chế tạo, trong khi tác động lên tổng việc làm mang tính không đồng nhất giữa các thị trường lao động khác nhau.
Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của robot được đánh giá là ảnh hưởng theo nhiều khía cạnh khác nhau. Một mặt, robot có thể thay thế lao động trong các nghiệm cụ có tính lặp lại, qua đó làm giả nhu cầu lao động ở một số công việc. Bên cạnh đó, robot cũng có thể nâng cao năng suất, giảm chi phí và giúp mở rộng quy mô sản xuất, từ đó tạo thêm nhu cầu lao động ở các giai đoạn bổ trợ hoặc thực hiện các nhiệm vụ mới như kiểm tra giám sát các hoạt động liên quan đến robot. Các nghiên cứu của Autor và cộng sự (2003); Acemoglu và Autor (2011), Acemoglu và Restrepo (2020) đều nhấn mạnh vai trò của cấu trúc nhiệm cụ trong việc công nghệ vừa thay thế vừa bổ trợ lao động.
Hình 3 cho thấy, tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo có mối quan hệ tích cực và ý nghĩa, với ước lượng điểm khoảng 88,7% và khoảng tin cậy 95%. Ngược lại, các biến đại diện cho mức tiền lương, mức độ thâm dụng nhiệm vụ lặp lại và tỷ lệ già hóa dân số chưa có tác động rõ ràng đối với cường độ nhập khẩu robot.
Hình 3: Mối quan hệ giữa cường độ nhập khẩu robot và tiền lương ngành chế biến, chế tạo
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade, ILOSTAT và Worldbank
Tác động của việc sử dụng robot lên vốn nhân lực
Báo cáo của World Bank (2025) cho khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho thấy, lợi ích từ robot có xu hướng nghiêng về lao động có trình độ cao hơn, trong khi một bộ phận lao động trình độ thấp hơn có thể bị dịch chuyển khỏi việc làm chính thức. Trong đó, đối với 5 nước ASEAN giai đoạn 2018-2022, robot giúp tạo thêm việc làm cho lao động kỹ năng cao trong khu vực chính thức nhưng đồng thời làm giảm việc làm của lao động kỹ năng thấp trong khu vực chính thức. Nghiên cứu của Fang và cộng sự (2024) cho thấy, tự động hóa có mối quan hệ chặt chẽ với việc giảm thất nghiệp của nhóm có trình độ trung bình, trong khi tác động đối với nhóm trình độ thấp và nhóm trình độ cao không rõ rệt. Ở cấp doanh nghiệp, theo Wang và cộng sự (2024), các doanh nghiệp áp dụng robot có xu hướng tăng việc làm trong doanh nghiệp và gia tăng tuyển dụng lao động có học vấn cao hơn, cho thấy thực trạng nâng cấp robot đi kèm nâng cấp quy trình và nhu cầu nhân lực bổ trợ có chất lượng.
Hình 4 cho thấy, tại Việt Nam giai đoạn 2020-2024, mối liên hệ giữa cường độ nhập khẩu robot và việc làm theo trình độ học vấn nhìn chung ổn định quanh mức thấp, chưa hình thành một mô hình phân hóa rõ nét giữa các bậc học. Trong đó, nhóm trung học cơ sở có mối quan hệ tích cực hơn cho thấy tỷ lệ gia tăng việc làm của nhóm này có thể tăng nhẹ tại những giai đoạn có cường độ robot cao hơn. Theo đó có thể thấy trong thời gian vừa qua cường độ sử dụng robot tại Việt Nam hiện nay chưa có tác động đáng kể đối với dịch chuyển mặt bằng việc làm theo học vấn trên thị trường lao động.
Hình 4: Mối liên hệ giữa cường độ nhập khẩu robot và việc làm
theo trình độ học vấn giai đoạn 2020-2024
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade, ILOSTAT và Worldbank
Nghiên cứu của World Bank (2025) chỉ ra rằng, công nghệ vừa thay thế một số công việc mang tính thủ công lặp lại, vừa làm tăng nhu cầu đối với các vị trí bổ trợ, vận hành có yêu cầu vốn nhân lực cao hơn.
Hình 5 cho thấy, nhóm tiến sĩ là nhóm có ảnh hưởng tích cực từ việc gia tăng quy mô sử dụng robot, với mưc tiền lương theo giờ có xu hướng tăng cùng với cường độ nhập khẩu robot, với ước lượng dương khoảng 6,8%.
Hình 5: Mối liên hệ giữa cường độ nhập khẩu robot và tiền lương theo giờ theo trình độ học vấn (Việt Nam, giai đoạn 2020-2024)
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade, ILOSTAT và Worldbank
Bên cạnh đó, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tác động của tự động hóa đối với thị trường lao động có sự khác biệt lớn giữa nam giới và nữ giới, chủ yếu được xác định do sự phân bổ nghề nghiệp và cơ cấu nhiệm vụ. Nghiên cứu của Cortés và cộng sự (2024) đã chỉ ra rằng, khi mức độ tiếp xúc với tự động hóa tăng, lao động nữ có xu hướng dịch chuyển khỏi các công việc thâm dụng nhiệm vụ lặp lại và chuyển sang các vị trí đòi hỏi kỹ năng cao hơn, trong khi tác động lên quyết định tham gia lực lượng lao động lại khá tương đồng giữa 2 giới. Ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, báo cáo của World Bank (2025) nhấn mạnh rằng, công nghệ mới đi kèm tăng việc làm nhờ hiệu ứng năng suất và mở rộng quy mô, nhưng tác động có thể khác nhau giữa các nhóm dân cư, tùy theo cấu trúc việc làm và mức độ dễ bị thay thế của các nhiệm vụ.
Hình 6 cho thấy, các thời điểm có cường độ nhập khẩu robot cao hơn ghi nhận mức tăng tương đối đồng đều về cả việc làm và tiền lương cho lao động nam và nữ. Ước lượng điểm cho tổng việc làm tăng khoảng 14% đối với nam và 12,9% đối với nữ, với khoảng tin cậy đều nằm ở phía dương. Đối với tiền lương theo giờ, mức tăng ước tính khoảng 18,1% đối với nam và 15,2% đối với nữ. Điều cho thấy, dưới tác động của cường độ sử dụng robot tăng theo thời gian thì xu hướng này có tác động lan tỏa đồng đều giữa cả 2 giới trong thị trường lao động tại Việt Nam, chưa tạo ra sự phân hóa mạnh.
Hình 6: Ước lượng mối liên hệ giữa cường độ nhập khẩu robot với việc làm và tiền lương theo giờ theo giới giai đoạn 2014-2020
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade, ILOSTAT và Worldbank
Kết quả theo nhóm tuổi trong Hình 7 cho thấy, khoảng thời gian có cường độ nhập khẩu robot cao hơn cho thấy mức tăng việc làm và tiền lương theo giờ, nhưng mức độ tác động có sự khác biệt lớn giữa giữa các nhóm tuổi. Về việc làm, tác động tích cực nhất ở nhóm lớn tuổi (55-64 tuổi), với mức tăng ước tính khoảng 17,9%; nhóm trung niên (25-54 tuổi) cũng tăng đáng kể, khoảng 13,1%. Ngược lại, nhóm trẻ (15-24 tuổi) có mức tăng thấp hơn, khoảng 4,5%. Tác động của robot tập trung ở nhóm trung niên và lớn tuổi, và ít tác động hơn ở nhóm trẻ cho thấy cách thức vận hành của việc robot hiện nay tại Việt Nam. Với việc robot hóa đóng vai trò bổ trợ đối với một số bộ phận lao động có kinh nghiệm thay vì thay thế hoàn toàn lao động ở quy mô lớn. Về tiền lương theo giờ, tác động tích cự ở cả 3 nhóm với mức tăng ước tính khá tương đồng quanh 16,6%-16,7%. Qua đó cho thấy việc cải thiện năng suất lao động gắn với gia tăng việc sử dụng robots có tác động trực tiếp đến mức lương theo giờ của người lao động.
Trong khi đó, nghiên cứu tại Trung Quốc của Giuntella và cộng sự (2022) đánh giá ở quy mô lớn, cho thấy tiếp xúc với robot có liên hệ với suy giảm việc làm và tiền lương và tác động bất lợi lớn hơn ở nhóm lao động lớn tuổi, đặc biệt trong các nhóm dễ tổn thương. Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, Acemoglu và Restrepo (2020) ghi nhận tác động dịch chuyển lao động của robot tại thị trường lao động địa phương, với bằng chứng cho thấy các hiệu ứng có thể tập trung mạnh trong các khu vực thâm dụng chế tạo. Theo Tang và cộng sự (2021), robot có thể thúc đẩy doanh nghiệp tuyển dụng lao động với kỹ năng cao hơn, cho thấy cơ chế nâng cấp cơ cấu việc làm khi công nghệ được áp dụng. Ở Indonesia, theo nghiên cứu của Calì và Presidente (2021), trong giai đoạn robot nhập khẩu tăng nhanh, hiệu ứng nâng năng suất có thể lấn át hiệu ứng thay thế, giúp cải thiện kết quả hoạt động và việc làm của người lao động.
Qua kết quả ước lượng cho thấy, hiện nay việc áp dụng robot tại Việt Nam đang tập trung vào việc nâng cao năng suất người lao động, do đó có tác động tích cực đối với các nhóm người lao động có kinh nghiệm. Trong khi đó, chưa có bước ngoặt mạnh mẽ, với quy mô lớn thay thế lao động do đó chưa ảnh hưởng lớn đến cơ cấu việc làm.
Hình 7: Mối liên hệ giữa cường độ nhập khẩu robot với việc làm và tiền lương theo giờ theo nhóm tuổi
![]() |
Nguồn: Ước lượng dựa trên nguồn dữ liệu từ UN Comtrade, ILOSTAT và Worldbank
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Kết luận
Nghiên cứu phân tích quá trình tự động hóa dựa trên nhập khẩu và sử dụng robot tại Việt Nam giai đoạn 2014-2024 bằng mô hình hồi quy, kết hợp dữ liệu từ UN Comtrade, World Bank và ILOSTAT để đo lường mức độ sử dụng robot theo thời gian và đánh giá mối liên hệ giữa tăng trưởng robot với đặc điểm vốn nhân lực theo giới, nhóm tuổi và trình độ học vấn. Kết quả cho thấy, robot công nghiệp tăng mạnh từ năm 2017 và đến năm 2024 đạt mức cao hơn gấp 8 lần sau hơn một thập kỷ, phản ánh xu hướng gia tăng nhanh của đầu tư tự động hóa trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, ngành chế biến, chế tạo có mối quan hệ tích cực với cường độ tăng trưởng robot. Các giai đoạn có mức tăng trưởng robot cao hơn gắn liền với cải thiện về việc làm và tiền lương theo giờ, với mức tăng tương đối đồng đều giữa nam và nữ, nhưng thể hiện rõ hơn ở nhóm lao động trung niên và lớn tuổi. Qua đó có thể thấy rằng thực trạng việc sử dụng robot tại Việt Nam hiện chủ yếu vận hành theo hướng tự động hóa từng phần, dựa trên việc kết hợp robot với kinh nghiệm của người lao động để mở rộng hoạt động và nâng năng suất, hơn là tạo ra sự dịch chuyển việc làm quy mô lớn trên toàn nền kinh tế.
Một số hàm ý chính sách
Thứ nhất, chính sách cần ưu tiên phát triển các công cụ hỗ trợ doanh nghiệp hấp thụ và khai thác hiệu quả công nghệ robot. Trong bối cảnh phần lớn robot công nghiệp tại Việt Nam vẫn là sản phẩm nhập khẩu hoàn chỉnh và năng lực thiết kế, chế tạo trong nước còn hạn chế, chính sách nên hướng vào việc nâng cao khả năng tích hợp robot vào quy trình sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất và chuẩn hóa dây chuyền nhằm phát huy hiệu quả sử dụng công nghệ.
Thứ hai, cần thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, như: tích hợp hệ thống, bảo trì, tư vấn và tùy biến phần mềm điều khiển, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, từng bước tiếp cận robot hóa với chi phí và rủi ro thấp hơn.
Thứ ba, chính sách cần thúc đẩy các cơ chế chuyển giao công nghệ, đồng phát triển và thử nghiệm ứng dụng robot trực tiếp trong môi trường doanh nghiệp, thay vì tách biệt nghiên cứu với nhu cầu và điều kiện sản xuất thực tế. Qua đó góp phần tích lũy năng lực công nghệ và tạo nền tảng cho quá trình nội địa hóa robot trong dài hạn.
Tài liệu tham khảo:
1. Acemoglu, D., & Restrepo, P. (2020). Robots and jobs: Evidence from US labor markets. Journal of Political Economy, 128(6), 2188-2244. https://doi.org/10.1086/705716.
2. Acemoglu, D., & Autor, D. (2011). Skills, tasks and technologies: Implications for employment and earnings. In O. Ashenfelter & D. Card (Eds.), Handbook of labor economics (Vol. 4B, pp. 1043-1171). Elsevier. https://doi.org/10.1016/S0169-7218(11)02410-5.
3. Autor, D. H., Levy, F., & Murnane, R. J. (2003). The skill content of recent technological change: An empirical exploration. The Quarterly Journal of Economics, 118(4), 1279-1333.
4. Calì, M., & Presidente, G. (2021). Automation and manufacturing performance in a developing country. Policy Research Working Paper No. 9653. World Bank.
5. Chen, C., & Frey, C. B. (2024). Robots and reshoring: A comparative study of automation, trade, and employment in Europe. Industrial and Corporate Change, 33(6), 1331-1377.
6. Cortés, P., Feng, Y., Guida-Johnson, N., & Pan, J. (2024). Automation and gender: Implications for occupational segregation and the gender skill gap. NBER Working Paper No. 32030. National Bureau of Economic Research.
7. Cugat, G., & Manera, A. (2024). Do capital inflows spur technology diffusion? Evidence from a new technology adoption index. IMF Working Paper No. WP/24/44. International Monetary Fund.
8. Fang, Z., Kang, S. H., & May, S. M. H. (2024). Does automation really reduce jobs? Asia and the Global Economy, 4, 100099. https://doi.org/10.1016/j.aglobe.2024.100099.
9. Giuntella, O., Lu, Y., & Wang, T. (2022). How do workers and households adjust to robots? Evidence from China (No. w30707). National Bureau of Economic Research.
10. International Federation of Robotics (IFR) (2024). Record of 4 million robots working in factories worldwide. https://ifr.org/ifr-press-releases/news/record-of-4-million-robots-working-in-factories-worldwide
11. International Federation of Robotics (IFR) (2025). Global robot demand in factories doubles over 10 year. https://ifr.org/ifr-press-releases/news/global-robot-demand-in-factories-doubles-over-10-years
12. Mitra, A., & Sharma, C. (2025). Technological Effects on Employment and Productivity in Developing World: Domestic Versus Imported Expertise. The Indian Journal of Labour Economics, 22, 1-30.
13. Tang, C., Huang, K., & Liu, Q. (2021). Robots and skill-biased development in employment structure: Evidence from China. Economics Letters, 205, 109960.
14. Wang, T., Zhang, Y., & Liu, C. (2024). Robot adoption and employment adjustment: Firm-level evidence from China. China Economic Review, 84, 102137. https://doi.org/10.1016/j.chieco.2024.102137
15. World Bank (2024). Viet Nam 2045: Trading up in a changing world. https://www.worldbank.org/en/country/vietnam/publication/viet-nam-2045-trading-up-in-a-changing-world
16. World Bank (2025). Taking stock: Viet Nam economic update, March 2025. https://www.worldbank.org/en/country/vietnam/publication/taking-stock-viet-nam-economic-update-march-2025.
| Ngày nhận bài: 13/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/2/2026; Ngày duyệt đăng: 2/3/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay









