Hoàn thiện chính sách tài chính xanh thúc đẩy thiết kế sinh thái tại Việt Nam

Tài chính - Ngân hàng 19:30 | 05/08/2026 ​​​​​​​Trần Thị Ngọc Hiền
Thiết kế sinh thái giữ vai trò then chốt trong chuyển dịch sang kinh tế tuần hoàn, giúp giảm tác động môi trường ngay từ khâu thiết kế sản phẩm. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các thực hành này vẫn khó nhân rộng do rào cản về chi phí nghiên cứu, vật liệu và đầu tư dây chuyền sản xuất xanh.

Trần Thị Ngọc Hiền (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Học viên cao học, Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Đại học Văn Lang

TS. Nguyễn Trung

Giảng viên, Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Đại học Văn Lang

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương hỗ liên ngành giữa thực hành thiết kế bền vững và chính sách tài chính xanh. Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích khung lý thuyết và nghiên cứu trường hợp điển hình đa lĩnh vực, kết quả cho thấy, rào cản tài chính lớn nhất của doanh nghiệp là chi phí nghiên cứu và phát triển vật liệu mới ở mức cao và khó tiếp cận vốn. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính xanh, gồm: tối ưu hóa cơ chế tiếp cận tín dụng xanh, áp dụng chính sách ưu đãi thuế trực tiếp cho thiết kế sinh thái và hỗ trợ ngân sách cho các mô hình đồng sáng tạo liên ngành.

Từ khóa: Doanh nghiệp sản xuất, chính sách tài chính xanh, thiết kế sinh thái

Abstract

The study examines the interdisciplinary relationship between sustainable design practices and green finance policies. Employing a qualitative research approach, integrating theoretical framework analysis with multiple cross-sector case studies, the findings indicate that the most significant financial barriers faced by manufacturing enterprises are the high costs associated with research and development of new materials and limited access to financial capital. Based on these findings, the study proposes several policy recommendations to improve green finance policies, including optimizing access mechanisms for green credit, implementing direct tax incentives for eco-design initiatives, and providing budgetary support for interdisciplinary co-creation models.

Keywords: Manufacturing enterprises, green finance policy, eco-design

GIỚI THIỆU

Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế toàn cầu cùng với những thách thức nghiêm trọng về cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu đã thúc đẩy tư duy sản xuất dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình tuyến tính truyền thống sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Trong quá trình này, thiết kế sinh thái nổi lên như một mắt xích đặc biệt quan trọng ở giai đoạn thượng nguồn của chuỗi giá trị.

Theo công bố chính thức của Ủy ban Châu Âu (European Commission, 2023), hơn 80% tác động môi trường của một sản phẩm được quyết định ngay từ khâu thiết kế. Việc tích hợp các yếu tố sinh thái vào cấu trúc, vật liệu và vòng đời sản phẩm không chỉ giúp giảm lượng chất thải phát sinh mà còn gia tăng tối đa khả năng tái sinh của nguồn lực tự nhiên ngay từ khi sản phẩm chưa được chế tạo.

Tại Việt Nam, việc thực hành thiết kế bền vững đang phát triển mạnh thông qua các thực nghiệm của thế hệ nhà thiết kế trẻ trong các lĩnh vực kiến trúc xanh, thời trang hữu cơ, bao bì xanh và mỹ thuật ứng dụng di sản. Tuy nhiên, một khoảng trống lớn đang tồn tại khi phần lớn các thực hành này vẫn dừng lại ở quy mô thử nghiệm nhỏ lẻ hoặc mang tính chất nghệ thuật đơn lẻ, chưa thể nhân rộng ở quy mô công nghiệp để tạo ra tác động xanh thực sự. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở rào cản chi phí đầu tư ban đầu quá cao cho việc nghiên cứu và phát triển vật liệu sinh học mới và nâng cấp dây chuyền sản xuất tuần hoàn, đặt ra áp lực tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của 2 hệ thống lý thuyết cốt lõi.

Về mặt thiết kế, Lý thuyết thiết kế sinh thái (Bovea và Pérez-Belis, 2012) đòi hỏi việc xem xét toàn bộ vòng đời sản phẩm, từ việc lựa chọn vật liệu không độc hại, có thể tái tạo, tối giản hóa năng lượng sản xuất, tối ưu hóa công năng sử dụng, cho đến khả năng phân hủy sinh học hoặc tái chế dễ dàng sau khi thải bỏ. Thiết kế sinh thái không đơn thuần là làm đẹp cho sản phẩm, mà là quá trình tư duy kỹ thuật, mỹ thuật tích hợp nhằm giải quyết triệt để bài toán rác thải của xã hội.

Về mặt kinh tế, Lý thuyết tài chính xanh phát triển từ các nghiên cứu về thị trường và ngoại ứng môi trường (UNEP, 2016; Umar và Safi, 2023) chỉ ra rằng, thị trường tự do thường thất bại trong việc tự điều chỉnh các ngoại ứng tiêu cực về môi trường. Do chi phí biên của các sản phẩm thân thiện với môi trường luôn cao hơn sản phẩm truyền thống, thị trường cần sự can thiệp của các công cụ tài chính công và chính sách tín dụng để tái phân bổ dòng vốn xã hội vào các dự án xanh.

Từ đó, khung phân tích của nghiên cứu này (Hình 1) được định hình dựa trên giả thuyết: Chính sách tài chính xanh đóng vai trò là “bệ đỡ kinh tế”, có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng hình thành, phát triển và nhân rộng các giải pháp thiết kế sinh thái trong doanh nghiệp.

Hình 1: Khung phân tích mối quan hệ tương hỗ liên ngành giữa tài chính xanh và thiết kế sinh thái

Hoàn thiện chính sách tài chính xanh thúc đẩy thiết kế sinh thái tại Việt Nam

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính nhằm phân tích mối quan hệ giữa chính sách tài chính và thực tiễn thiết kế sáng tạo theo hướng sinh thái.

Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp được sử dụng để tổng hợp các báo cáo chuyên ngành của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tình hình giải ngân tín dụng xanh; các nghiên cứu học thuật về xu hướng thiết kế bền vững tại Việt Nam từ năm 2020 đến nay.

Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình được áp dụng để phân tích 3 mô hình đại diện cho 3 nhánh của mỹ thuật ứng dụng tại Việt Nam đang thực hành thiết kế sinh thái, gồm:

Một là, lĩnh vực kiến trúc và nội thất, với các công trình ứng dụng tre và đất nện của Văn phòng Kiến trúc 1+1>2 (2020).

Hai là, lĩnh vực thời trang sinh học với thực nghiệm vật liệu Scoby (da nuôi cấy từ giấm nấm) của nhà thiết kế Trần Hùng (2023).

Ba là, lĩnh vực mỹ nghệ di sản xuất khẩu qua dự án “Crafting Futures” của Hội đồng Anh phối hợp với các làng nghề truyền thống (British Council Vietnam, 2022).

Phương pháp phân tích chính sách được sử dụng để đối chiếu thực trạng khó khăn về vốn của các mô hình này với các quy định pháp lý hiện hành, từ đó phát hiện các khoảng trống chính sách.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng ứng dụng thiết kế sinh thái và những rào cản tài chính tại Việt Nam

Thông qua phân tích 3 trường hợp điển hình, nghiên cứu đã tổng hợp và làm rõ mối tương quan trực tiếp giữa thực hành mỹ thuật ứng dụng bền vững và những rào cản tài chính mà các chủ thể đang gặp phải. Kết quả được tổng hợp tại Bảng 1.

Bảng 1: Thực hành thiết kế sinh thái và những rào cản kinh tế tại Việt Nam

Lĩnh vực

Xu hướng thiết kế sinh thái

Trường hợp điển hình

Rào cản tài chính

Kiến trúc và nội thất

Sử dụng cấu trúc tre, gỗ tái chế, đất nện; tối ưu hóa thông gió tự nhiên để giảm năng lượng vận hành công trình.

Nhà cộng đồng Nậm Đăm (Văn phòng Kiến trúc 1+1>2, 2020)

Chi phí xử lý chống mối mọt tự nhiên cho tre rất cao; khó tiếp cận vốn tín dụng xanh do vật liệu tự nhiên chưa được định giá để làm tài sản thế chấp truyền thống.

Thời trang và sản phẩm

Phát triển vật liệu sinh học tự phân hủy: vải sợi tự nhiên, da sinh học nuôi cấy từ màng nấm Scoby.

NTK Trần Hùng và BST chế tác từ màng sinh học Scoby (2023)

Chi phí nghiên cứu và phát triển do nhà thiết kế tự trang trải còn lớn; chuỗi cung ứng vật liệu xanh chưa được thương mại hóa ở quy mô lớn khiến giá thành sản phẩm cao gấp 3-5 lần sản phẩm thông thường.

Thủ công mỹ nghệ di sản

Tinh giản tạo hình, kết hợp kỹ nghệ sơn mài, mây tre đan cổ truyền với tư duy tối giản để hướng tới xuất khẩu bền vững.

Dự án “Crafting Futures” (British Council Vietnam, 2022)

Chi phí đánh giá và cấp các chứng chỉ sinh thái quốc tế như FSC, OEKO-TEX còn cao so với năng lực tài chính của các hợp tác xã và cơ sở làng nghề quy mô nhỏ.

Nguồn: Nghiên cứu của nhóm tác giả

Kết quả nghiên cứu trường hợp cho thấy, các nhà thiết kế và doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động thử nghiệm, phát triển nhiều giải pháp thiết kế sinh thái. Tuy nhiên, các chủ thể này đang phải tự trang trải phần lớn các chi phí để tạo ra những ngoại ứng tích cực về môi trường chung cho xã hội, trong khi chưa nhận được các cơ chế hỗ trợ và bù đắp tài chính tương xứng từ hệ thống chính sách công.

Điểm nghẽn trong chính sách tài chính xanh hiện hành

Kết quả nghiên cứu thực tế hoàn toàn tương thích với các lý thuyết kinh tế môi trường về sự thất bại của thị trường đối với hàng hóa xanh. Qua phân tích thực trạng chính sách và nguồn vốn tài chính xanh, nghiên cứu nhận diện 3 điểm nghẽn chủ yếu đang cản trở dòng vốn đầu tư vào hoạt động thiết kế sinh thái.

Thứ nhất, cơ cấu phân bổ tín dụng xanh còn mất cân đối. Đỗ Hoàng Oanh và Nguyễn Xuân Đạo (2024) dẫn số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến giai đoạn 2024-2025, dư nợ cấp tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt khoảng 650.000-750.000 tỷ đồng (chiếm từ 4,2% đến 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế). Tuy nhiên, phân bổ dòng vốn này mất cân đối khi có đến hơn 85% nguồn vốn chỉ tập trung vào 2 lĩnh vực có quy mô siêu lớn là năng lượng tái tạo và nông nghiệp sạch. Lĩnh vực công nghiệp sáng tạo, mỹ thuật ứng dụng và thiết kế sản phẩm sinh thái chỉ chiếm chưa đầy 0,5% dư nợ được tiếp cận. Do các nhà thiết kế và doanh nghiệp sáng tạo chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, ít tài sản hữu hình để bảo đảm cho khoản vay, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi còn hạn chế.

Thứ hai, chi phí duy trì các tiêu chuẩn sinh thái và đạt chuẩn quốc tế trở thành rào cản đối với các đơn vị sản xuất quy mô nhỏ. Để sản phẩm dệt may hoặc thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường như EU và Hoa Kỳ, doanh nghiệp thường phải đáp ứng những tiêu chuẩn và chứng chỉ xanh quốc tế như OEKO-TEX Standard 100 hoặc FSC. Chi phí đánh giá, kiểm định và duy trì các chứng chỉ này dao động từ 3.000-7.000 USD/năm, tương đương khoảng 75-175 triệu đồng (Forest Stewardship Council, 2023; OEKO-TEX Service GmbH, 2024). Đối với các hợp tác xã hoặc doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng, đây là khoản chi phí thường xuyên tương đối lớn, trong khi chưa có cơ chế hỗ trợ ngân sách phù hợp.

Thứ ba, chính sách hiện hành chưa đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp thay đổi tư duy thiết kế theo hướng có trách nhiệm với môi trường. Luật Thuế bảo vệ môi trường hiện nay chủ yếu tập trung vào việc áp thuế phạt đối với các sản phẩm gây ô nhiễm ở đầu ra nhưng còn thiếu các cơ chế hoàn thuế hoặc khấu trừ thuế đầu vào cho các doanh nghiệp chủ động đầu tư vào thiết kế sinh thái từ đầu nguồn.

KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Để đưa thiết kế sinh thái từ các thực nghiệm đơn lẻ trở thành xu hướng chủ đạo trong các doanh nghiệp sản xuất, nhóm tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp sau:

Hoàn thiện danh mục phân loại xanh và cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với hoạt động thiết kế sinh thái

Các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu bổ sung nhóm “Dự án sản xuất và ứng dụng thiết kế sinh thái, vật liệu sinh học” vào Danh mục phân loại xanh quốc gia. Đây là cơ sở để các tổ chức tín dụng nhận diện, thẩm định và cấp vốn cho các dự án thiết kế sinh thái một cách thuận lợi, thống nhất hơn.

Trên cơ sở đó, có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất từ 1,5-2%/năm từ ngân sách nhà nước đối với các khoản vay thương mại phục vụ hoạt động nghiên cứu và phát triển vật liệu xanh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu cơ chế định giá và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với các thiết kế độc quyền làm tài sản bảo đảm hoặc căn cứ đánh giá năng lực tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Áp dụng chính sách ưu đãi thuế trực tiếp đối với hoạt động thiết kế sinh thái

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, cần nghiên cứu cơ chế cho phép doanh nghiệp được khấu trừ cao hơn đơi với chi phí thực tế chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển thiết kế sinh thái và chi phí kiểm định chứng chỉ xanh quốc tế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm.

Bên cạnh đó, cần rà soát chính sách thuế xuất khẩu đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn với di sản và đáp ứng tiêu chuẩn xanh quốc tế; nghiên cứu áp dụng các biện pháp hỗ trợ phù hợp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh về giá và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm xanh của Việt Nam.

Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tài chính cho mô hình đồng sáng tạo giữa “Nhà thiết kế - Nghệ nhân”

Cần xây dựng cơ chế hỗ trợ ngân sách cho các dự án liên kết giữa nhà thiết kế trẻ, doanh nghiệp sáng tạo, cơ sở đào tạo và nghệ nhân tại các làng nghề truyền thống. Việc hỗ trợ có thể được thực hiện thông qua các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với quy định hiện hành.

Nguồn lực hỗ trợ cần tập trung vào hoạt động nghiên cứu và phát triển mẫu sản phẩm; thử nghiệm vật liệu; chuyển giao công nghệ sản xuất; xây dựng, chuẩn hóa quy trình chế tác thủ công theo tiêu chuẩn sinh thái; đăng ký sở hữu trí tuệ; kiểm định và cấp chứng chỉ xanh.

Cơ chế này không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mà còn thúc đẩy bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tạo sinh kế xanh cho cộng đồng địa phương và tăng cường mối liên kết giữa hoạt động sáng tạo với phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Bovea, M. D., & Pérez-Belis, V. (2012). A taxonomy of ecodesign tools for integrating environmental requirements into the product design process. Journal of Cleaner Production, 20(1), 61-71. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2011.07.012

2. British Council Vietnam (2022). Dự án kết nối thủ công mỹ nghệ Crafting Futures. https://www.britishcouncil.vn/en/programmes/arts/crafting-futures

3. Đỗ Hoàng Oanh, & Nguyễn Xuân Đạo (2024). Tăng trưởng tín dụng xanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. https://tapchicongthuong.vn/tang-truong-tin-dung-xanh-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-130376.htm

4. European Commission (2023). Speech by Commissioner Sinkevičius on the EU strategy for sustainable and circular textiles. European Commission Press Corner. https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/it/speech_23_3786

5. Forest Stewardship Council (2023). FSC chain of custody certification requirements and annual administration fee structure (FSC-STD-40-004 V3-1). FSC International.

6. OEKO-TEX Service GmbH (2024). Standard 100 by OEKO-TEX: Testing procedures and certification fee guidelines. OEKO-TEX Association.

7. Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14.

8. Trần, H. (2023, December 15). Thử nghiệm chất liệu Scoby trong ngành thời trang Việt. https://vneconomy.vn/thu-nghiem-chat-lieu-scoby-trong-nganh-thoi-trang-viet.htm

9. Umar, M., & Safi, A. (2023). Do green finance and innovation matter for environmental protection? A case of OECD economies. Energy Economics, 119, Article 106560. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2023.106560

10. UN Environment Programme (2016). G20 green finance synthesis report. UNEP Inquiry into the Design of a Sustainable Financial System. https://www.unep.org/resources/report/g20-green-finance-synthesis-report

11. Văn phòng Kiến trúc 1+1>2 (2020). Nam Dam homestay and community house / 1+1>2 Architects. https://www.archdaily.com/802377/nam-dam-homestay-and-community-house-1-plus-1-greater-than-2-architects

Ngày nhận bài: 25/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 21/7/2026; Ngày duyệt đăng: 4/8/2026

Các tin khác

Mô hình phân phối tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) bán lẻ: Kinh nghiệm quốc tế và sự lựa chọn tối ưu cho hệ thống tài chính Việt Nam

Mô hình phân phối tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) bán lẻ: Kinh nghiệm quốc tế và sự lựa chọn tối ưu cho hệ thống tài chính Việt Nam

Sự gia tăng của kinh tế số thôi thúc hơn 90% số ngân hàng trung ương toàn cầu nghiên cứu và thử nghiệm tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) ở cấp độ bán lẻ nhằm gia tăng tính hiệu quả trong thanh toán cũng như mở rộng khả năng tiếp cận tài chính. Tuy nhiên, thách thức chính nằm ở việc thiết kế kiến trúc phân phối.
Quản trị GenAI có trách nhiệm trong dịch vụ khách hàng: Nghiên cứu trường hợp tại MBBank, TPBank và Techcombank

Quản trị GenAI có trách nhiệm trong dịch vụ khách hàng: Nghiên cứu trường hợp tại MBBank, TPBank và Techcombank

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải quyết 3 câu hỏi: Các ngân hàng đang bộc lộ mức độ sẵn sàng về quản trị GenAI thế nào thông qua các báo cáo công khai? Điểm nghẽn quản trị lớn nhất hiện nay đang nằm ở đâu? và Đâu là một khung vận hành thực tiễn có thể giúp các ngân hàng dung hòa giữa khát vọng đổi mới sáng tạo và yêu cầu kiểm soát rủi ro khắt khe?
Thực hành ESG tại ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thực hành ESG tại ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh thế giới phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn về môi trường (biến đổi khí hậu, ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên,…) và các vấn đề xã hội (bất bình đẳng, đói nghèo,…) việc chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững và thực hành ESG đã trở thành xu hướng phổ biến, cấp bách và mang tính toàn cầu.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn TP. Huế

Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn TP. Huế

Khu vực doanh nghiệp FDI đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách tại TP. Huế, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức trong quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt đối với giao dịch liên kết và rủi ro chuyển giá. Nghiên cứu đánh giá thực trạng giai đoạn 2021-2025, qua đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với khu vực này.
Đầu tư công nghệ trong định giá tài sản: Đề xuất mở rộng mô hình Carhart tại Việt Nam

Đầu tư công nghệ trong định giá tài sản: Đề xuất mở rộng mô hình Carhart tại Việt Nam

Bài viết nhấn mạnh việc kiểm định giá trị giải thích gia tăng của MML trước khi xem đây là nhân tố định giá độc lập tại Việt Nam, trên cơ sở tổng quan sự phát triển từ CAPM đến mô hình Carhart 4 nhân tố và vai trò của đầu tư công nghệ.
Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ

Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ

Quản trị chi phí đào tạo theo hoạt động giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, kiểm soát biến động chi phí và hỗ trợ phân bổ nguồn lực hợp lý.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại  Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Trong bối cảnh kinh tế số và thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, thẻ tín dụng ngày càng trở thành sản phẩm quan trọng của ngân hàng bán lẻ nhờ khả năng hỗ trợ thanh toán, chi tiêu ngắn hạn, miễn lãi, trả góp, hoàn tiền và tích điểm.
Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.