Nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số

Nghiên cứu - Trao đổi 18:21 | 22/05/2026
Trong xu thế toàn cầu hóa và dòng chảy mạnh mẽ của kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành điều kiện tiên quyết để một quốc gia duy trì đà tăng trưởng và khẳng định vị thế trên trường quốc tế

TS. Nguyễn Thị Dung

Trường Đại học Nông – Lâm Bắc Giang

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu trong báo cáo năng lực cạnh tranh năm 2024, năm 2025 và phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh nhằm đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam, so sánh các trụ cột năng lực cạnh tranh năm 2024, năm 2025 và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2025, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số.

Từ khóa: Năng lực cạnh tranh, chỉ số năng lực cạnh tranh.

Abstract

The study utilizes the datasets from the 2024 and 2025 competitiveness reports, along with descriptive statistics and comparative analysis methods, to evaluate Vietnam's competitiveness index, its competitiveness pillars for 2024 and 2025, and the 2025 Provincial Competitiveness Index. Based on these findings, the study proposes solutions to enhance Vietnam's competitiveness in the context of the digital economy.

Keywords: Competitiveness, competitiveness index.

GIỚI THIỆU

Trong xu thế toàn cầu hóa và dòng chảy mạnh mẽ của kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành điều kiện tiên quyết để một quốc gia duy trì đà tăng trưởng và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Thực tế cho thấy, năng lực cạnh tranh không còn chỉ được đánh giá bằng các chỉ số tăng trưởng kinh tế thuần túy mà ngày càng chịu sự chi phối lớn từ các yếu tố bền vững, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả điều hành của bộ máy thể chế (SolAbility, 2024).

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đối mặt với nhiều biến động phức tạp và những thách thức khó định lượng, (Hồng Hạnh, 2026). Các báo cáo đánh giá gần đây chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh vĩ mô cho thấy Việt Nam đang ở nhóm có sức cạnh tranh trung bình thấp (Eight International, 2025). Thực tế này đặt ra một bài toán cấp bách về việc phải thay đổi tư duy chiến lược và mô hình phát triển kinh tế vĩ mô theo hướng hiệu suất và tuần hoàn.

Ở góc độ vi mô, năng lực cạnh tranh quốc gia luôn là sự phản chiếu trực tiếp từ chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực điều hành kinh tế tại các địa phương. Hệ thống chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) vừa được công bố đã ghi nhận những nỗ lực vượt bậc của chính quyền trong việc giảm thiểu thủ tục hành chính và cắt giảm các chi phí phi chính thức cho doanh nghiệp (VCCI, 2026).

Xuất phát từ thực tế trên, bài báo Nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số” được thực hiện nhằm cho thấy cái nhìn toàn diện cấu trúc các trụ cột năng lực cạnh tranh quốc gia (GCI), đối chiếu với thực trạng các chỉ số thành phần PCI, từ đó đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm giúp Việt Nam chuyển hóa nguồn lực tri thức thành năng lực xanh, nâng cao tư duy quản trị kiến tạo để bứt phá mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh phản ánh vị thế của một thực thể kinh tế (quốc gia, ngành sản xuất, doanh nghiệp, hộ gia đình) trong mối quan hệ với các thực thể kinh tế khác, thông qua việc so sánh các đặc tính hoặc kết quả hoạt động thể hiện sự vượt trội hay yếu thế. Theo nghĩa hẹp, năng lực cạnh tranh được nghiên cứu trong các điều kiện mà lợi ích của các thực thể xung đột lẫn nhau nghĩa là việc một thực thể đạt được mục tiêu sẽ khiến thực thể khác không thể đạt được mục tiêu tương tự. Theo nghĩa rộng, năng lực cạnh tranh không được coi là một trò chơi có tổng bằng không, bởi vì lợi ích của một thực thể không nhất thiết phải đánh đổi bằng tổn thất của các thực thể khác, (Reiljan và c.s, 2000).

Chỉ số năng lực cạnh tranh

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) là công cụ định lượng toàn diện giúp đánh giá sức cạnh tranh của một nền kinh tế tại một thời điểm nhất định. Kết quả từ GCI cung cấp một hệ quy chiếu quốc tế khách quan, cho phép quốc gia tự bóc tách các lợi thế so sánh và nhận diện những hạn chế cốt lõi so với mặt bằng chung toàn cầu, (Nguyễn Thị Hương Lan và c.s, 2023).

Theo VCCI chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số đo lường và đánh giá chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi, thân thiện của môi trường kinh doanh và nỗ lực cải cách hành chính của chính quyền các tỉnh, thành phố tại Việt Nam, qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

Nội dung đánh giá các chỉ số năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế số

Từ năm 2005, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) đã được sử dụng nhằm đo lường các yếu tố kinh tế vi mô, vĩ mô và lợi thế tự nhiên tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia. Đến năm 2017, trước bối cảnh phục hồi kinh tế mong manh, phân cực chính trị và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã đổi mới phương pháp, thay thế GCI bằng chỉ số GCI 4.0. Bộ chỉ số mới này cung cấp góc nhìn khách quan, giúp các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp thấu hiểu sâu sắc hơn những động lực tăng trưởng cốt lõi của nền kinh tế. Việt Nam đo lường dựa trên hệ thống 114 chỉ số của GCI truyền thống, và hiện nay là 98 chỉ số thuộc khung đánh giá GCI 4.0. Trong 114 chỉ số được chia thành 3 nhóm chính với 12 trụ cột: Nhóm chỉ số yêu cầu cơ bản (thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục tiểu học); Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả (đào tạo và giáo dục bậc cao, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, sự phát triển của thị trường tài chính); Nhóm nhân tố đổi mới và tinh thông (mức độ tinh thông của doanh nghiệp, đổi mới công nghệ), (Lê Thị Quỳnh Hoa, 2022).

Theo VCCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI bao gồm 10 chỉ số thành phần, chỉ số này bao quát những lĩnh vực chính của điều hành kinh tế của các tỉnh, thành phố có liên quan tới sự phát triển của doanh nghiệp: (1) Chi phí gia nhập thị trường thấp; (2) Tiếp cận đất đai dễ dàng và sử dụng đất ổn định; (3) Môi trường kinh doanh minh bạch và thông tin kinh doanh công khai; (4) Chi phí không chính thức thấp; (5) Thời gian thanh tra, kiểm tra và thực hiện các qui định, thủ tục hành chính nhanh chóng; (6) Môi trường cạnh tranh bình đẳng;(7) Chính quyền tỉnh năng động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp. (8) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, chất lượng cao; (9) Chính sách đào tạo lao động tốt; (10) Thủ tục giải quyết tranh chấp công bằng, hiệu quả và duy trì được an ninh trật tự.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu trong báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2024 (đánh giá 191 quóc gia), năm 2025 (đánh giá 58 quốc gia) và báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 và sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh trong đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam, các trụ cột năng lực cạnh tranh năm 2024, 2025 và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI)

Để có cái nhìn khách quan về năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước khu vực châu Á trong năm 2025, nghiên cứu tiến hành so sánh mối quan hệ tương quan với 12 nền kinh tế đại diện tại khu vực châu Á trong tổng số 58 quốc gia được đánh giá dựa trên báo cáo của Eight International (2025). Kết quả tổng hợp và xếp hạng cụ thể được thể hiện tại Hình 1.

Hình 1: Bảng xếp hạng và vị thế năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với một số quốc gia châu Á năm 2025

Nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số

Nguồn: Eight International (2025)

Số liệu thống kê tại Hình 1 cho thấy một sự phân hóa rõ rệt về năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia được khảo sát, đồng thời phản ánh vị trí hiện tại của Việt Nam trên bản đồ kinh tế khu vực và thế giới.

Việt Nam đạt mức điểm 0.339, đứng thứ 12/13 quốc gia châu Á trong danh sách khảo sát và xếp hạng 52 trong tổng số 58 quốc gia.

So sánh với các nhóm dẫn đầu cho thấy có một khoảng cách khá lớn về điểm số giữa Việt Nam và các quốc gia thuộc nhóm “tiên phong” tại châu Á. Cụ thể, các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản (0.573), Hàn Quốc (0.561) và Israel (0.544) duy trì vị thế vượt trội (nằm trong Top 30 toàn cầu) nhờ sự tích lũy mạnh mẽ về vốn trí tuệ, công nghệ và quản trị.

Khi đặt cạnh các quốc gia láng giềng trong khu vực Đông Nam Á, năng lực cạnh tranh của Việt Nam hiện đang đi sau Malaysia (0.397), Thái Lan (0.396) và Indonesia (0.349). Dù khoảng cách điểm số giữa Việt Nam và Indonesia không quá lớn (0.01 điểm), nhưng việc xếp sau các quốc gia này đặt ra áp lực lớn cho Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn đầu tư dịch chuyển và các chuỗi cung ứng chất lượng cao tại khu vực. Tuy nhiên, điểm tích cực là Việt Nam vẫn xếp trên Ấn Độ (0.316) - một trong những nền kinh tế lớn và là đối thủ cạnh tranh trực tiếp về thu hút FDI dòng chảy công nghiệp chế biến chế tạo.

Nhìn chung, vị thế hạng 52/58 và hạng 12 khu vực của Việt Nam trong năm 2025 vừa là tấm gương phản chiếu những nỗ lực duy trì tăng trưởng ổn định thời gian qua, nhưng đồng thời cũng là một “hồi chuông” nhắc nhở về yêu cầu cấp bách phải cải cách mạnh mẽ hơn. Để tìm ra nguyên nhân cốt lõi dẫn đến kết quả này, việc bóc tách sâu hơn vào cấu trúc điểm số của từng trụ cột nội tại (vốn tự nhiên, vốn xã hội, quản trị, kinh tế...) tại các phần tiếp theo là vô cùng cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp cải thiện năng lực cạnh tranh một cách thực chất.

Đánh giá điểm số và thứ hạng các trụ cột năng lực cạnh tranh của Việt Nam

Để có cái nhìn xuyên suốt và đánh giá đúng xu hướng phát triển nội tại, nghiên cứu tiến hành phân tích và so sánh cấu trúc điểm số, thứ hạng của các trụ cột năng lực cạnh tranh vĩ mô tại Việt Nam qua hai năm liên tiếp dựa trên dữ liệu của SolAbility Sustainable Intelligence (2024) (Hình 2) và Eight International (2025) (Hình 3).

Hình 2: Điểm số và thứ hạng các trụ cột năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2024

Nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số

Nguồn: SolAbility Sustainable Intelligence (2024)

Năm 2024, trong không gian rộng lớn của 191 quốc gia được đánh giá, vốn trí tuệ của Việt Nam đã xuất sắc ghi danh ở vị trí thứ 34. Đến năm 2025, trong tổng số 58 quốc gia, chỉ số giáo dục của Việt Nam vẫn giữ ở vị trí thứ 30.

Kết quả cho thấy, tri thức, chất xám và năng lực học tập của lao động Việt Nam vẫn là một lợi thế cạnh tranh thực chất, mang tầm quốc tế chứ không chỉ dừng lại ở việc vượt trội hơn các quốc gia kém phát triển.

Hình 3: Điểm số và thứ hạng các trụ cột năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2025

Nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số

Nguồn: Eight International (2025)

Năm 2024, vốn kinh tế Việt Nam đạt thứ hạng ấn tượng là 27/191, phản ánh tốc độ tăng trưởng GDP bứt phá và khả năng thu hút dòng vốn FDI vượt trội so với mặt bằng chung toàn cầu. Tuy nhiên, sang năm 2025, trong nhóm 58 nước có tiềm lực tài chính và quy mô kinh tế hàng đầu, chỉ số kinh tế của Việt Nam bị đẩy xuống vị trí 45. Điều này minh chứng rằng dù chúng ta có tốc độ năng động tốt, nhưng quy mô tích lũy tài sản kinh tế thuần túy và chiều sâu của nền tài chính quốc gia vẫn còn khoảng cách lớn so với nhóm các nước phát triển.

Xét trên phương diện vốn xã hội, Việt Nam có vị thế 45/191 về vốn xã hội năm 2024 cho thấy sự ổn định chính trị - xã hội tương đối tốt của Việt Nam trên diện rộng. Nhưng năm 2025 trong nhóm 58 quốc được đánh giá, chỉ số xã hội của Việt Nam năm 2025 đứng ở vị trí 50/58 - thuộc nhóm cuối của bảng xếp hạng.

Dữ liệu của cả hai năm đã cùng chỉ ra trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Năm 2024, chỉ số cường độ sử dụng tài nguyên của nước ta xếp hạng 116 trong 191 quốc gia. Điều này cho thấy việc tiêu tốn năng lượng thô và ô nhiễm môi trường ở mức rất cao. Bước sang năm 2025, chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 53 trên tổng số 58 quốc gia. Vị trí này là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy mô hình tăng trưởng của Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn về các tiêu chí xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường khi đặt cạnh các tiêu chuẩn quốc tế hiện đại.

Như vậy, năng lực cạnh tranh của Việt Nam có sự phân hóa nội tại sâu sắc. Khi so với thế giới nói chung, Việt Nam có quyền tự hào về tốc độ phát triển kinh tế (Hạng 27) và vốn trí tuệ (Hạng 34). Tuy nhiên, khi bước vào nhóm 58 nước, Việt Nam bộc lộ rõ rệt vị thế của một quốc gia đi sau về hiệu suất sử dụng tài nguyên (hạng 53), an sinh xã hội (hạng 50) .

Các chỉ số thành phần PCI của Việt Nam

Để làm rõ những động lực nội tại cũng như các rào cản thể chế cấp bách đang tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh vĩ mô, nghiên cứu tiến hành phân tích sâu kết quả 9 chỉ số thành phần (CSTP) thuộc bộ chỉ số PCI.

Chỉ số về chi phí không chính thức (7.60 điểm), chi phí tuân thủ TTHC (7.31 điểm), thiết chế pháp lý (7.29 điểm) và gia nhập thị trường (7.07 điểm) chứng minh những nỗ lực cắt giảm thủ tục hành chính, số hóa quy trình và phòng chống tham nhũng của chính quyền đã mang lại hiệu quả thực tế, giúp giảm bớt gánh nặng chi phí và thời gian ban đầu cho doanh nghiệp.

Các chỉ số về môi trường kinh doanh bộc lộ những nút thắt lớn tại các chỉ số cạnh tranh bình đẳng (5.51 điểm), chính quyền kiến tạo (5.46 điểm) và thấp nhất là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (5.43 điểm) chỉ ra rằng khối doanh nghiệp tư nhân nội địa vẫn gặp nhiều bất lợi trong tiếp cận nguồn lực so với các khối kinh tế khác, chính sách nhà nước chưa phát huy hiệu quả, và tư duy điều hành ở cấp cơ sở chưa chuyển dịch mạnh mẽ từ “quản lý” sang “phục vụ”.

Bảng 1: 9 Chỉ số thành phần PCI của Việt Nam năm 2025

Mã CSTP

Tên Chỉ số Thành phần

Điểm số

CSTP 01

Gia nhập thị trường

7.07

CSTP 02

Tiếp cận nguồn lực

6.95

CSTP 03

Tính minh bạch

6.93

CSTP 04

Chi phí tuân thủ TTHC

7.31

CSTP 05

Chi phí không chính thức

7.6

CSTP 06

Cạnh tranh bình đẳng

5.51

CSTP 07

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

5.43

CSTP 08

Thiết chế pháp lý

7.29

CSTP 09

Chính quyền kiến tạo

5.46

Nguồn: VCCI (2026)

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam

Từ kết quả phân tích thực trạng vị thế năng lực cạnh tranh toàn cầu (xếp hạng 52/58) và cấu trúc 9 chỉ số thành phần PCI năm 2025, có thể thấy Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải thay đổi mô hình tăng trưởng. Để tháo gỡ các nút thắt mang tính cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia bền vững trong giai đoạn tới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, chuyển hóa “vốn trí tuệ” thành động lực tăng trưởng xanh để giảm cường độ thâm dụng tài nguyên. Với lợi thế bền vững của ngành giáo, Việt Nam cần tập trung định hướng nguồn nhân lực chất lượng cao này vào lĩnh vực công nghệ, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo. Đầu tư mạnh mẽ cho R&D (nghiên cứu và phát triển) nhằm tối ưu hóa hiệu suất sử dụng năng lượng trong sản xuất công nghiệp, từng bước kéo chỉ số “phát triển bền vững” (hiện đang xếp hạng 53/58).

Hai là, hiện thực hóa tư duy “Chính quyền kiến tạo”, chuyển từ quản lý sang phục vụ. Để thực hiện điều này các cấp địa phương cần tiếp tục nâng cao tính chủ động, linh hoạt và trách nhiệm. Không chỉ dừng lại ở việc cắt giảm thủ tục hành chính đơn thuần, chính quyền cần tăng cường tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, khơi thông dòng vốn và mặt bằng cho doanh nghiệp.

Ba là, kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, phá vỡ các rào cản tiếp cận nguồn lực. Tập trung cải thiện chỉ số cạnh tranh bình đẳng (5.51 điểm) bằng cách tăng cường minh bạch hóa quy trình tiếp cận các nguồn lực công như: đất đai, tín dụng và cơ hội tham gia các dự án đấu thầu công.

Bốn là, nâng cao tính thực chất và hiệu quả của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Với mức điểm thấp nhất trong hệ thống PCI (5.43 điểm), trong đó, giảm bớt các điều kiện ràng buộc hành chính phức tạp để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước, từ đó nâng cao năng lực nội tại nhằm cải thiện “vốn kinh tế” và “vốn xã hội” của quốc gia trên trường quốc tế.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2025 đang đứng trước bước ngoặt phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Vị thế hạng 52/58 toàn cầu và hạng 12 khu vực châu Á là minh chứng khách quan phản cho thấy sự thiếu cân bằng giữa tích lũy tài sản ngắn hạn và thâm dụng tài nguyên. Lợi thế chiến lược lớn nhất của quốc gia hiện nay nằm ở nền tảng giáo dục và vốn trí tuệ liên tục giữ vững vị trí trong nhóm 30 - 34 nước. Tuy nhiên, năng lực này chưa thực sự hiệu quả để giải quyết các nút thắt về hiệu suất xanh, cải thiện hệ thống phúc lợi xã hội và nâng cao năng lực quản trị vĩ mô. Song song đó, kết quả 9 chỉ số thành phần PCI chỉ ra rào cản lớn nhất nằm ở tư duy phục vụ của chính quyền cơ sở, hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ. Do đó, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế nhân công giá rẻ hay khai thác tự nhiên mà cần chuyển dịch sang nền kinh tế hiệu suất và tri thức tuần hoàn. Việc đồng bộ hóa cải cách thể chế từ cải giảm thủ tục sang kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho khối tư nhân chính là chìa khóa cốt lõi để nâng cao vị thế quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

1. Eight International (2025). Competitiveness Report 2025 Economic strength, societal investment, education and sustainability: keys to global competitiveness. https://www.8advisory.com/en/2025/10/27/eight-competitiveness-report-2025/

2. Lê Thị Quỳnh Hoa (2022). Tìm hiểu về Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (Global Competitiveness Report). https://www.ipvietnam.gov.vn/vi_VN/web/guest/hoat-ong-shcn-quoc-te/-/asset_publisher/09mvNJ27mk6z/content/tim-hieu-ve-bao-cao-nang-luc-canh-tranh-toan-cau-global-competitiveness-report-gcr-

3. Nguyễn Thị Hương Lan, Trương Ngọc Tuấn Tới, Trần Thị Như Quỳnh (2023). Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam và các nước ASEAN. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 19, tháng 7/2023. https://kinhtevadubao.vn/chi-so-nang-luc-canh-tranh-toan-cau-cua-viet-nam-va-cac-nuoc-asean-28075.html.

4. Reiljan, J., Hinrikus, M., & Ivanov, A. (2000). Key issues in defining and analyzing the competitiveness of a country (Working Paper No. 3974). Tartu University Press.

5. SolAbility Sustainable Intelligence (2024). The Global sustainable competitiveness index.

6. VCCI (2026). Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.

Ngày nhận bài: 24/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/5/2026; Ngày duyệt đăng: 20/5/2026

Các tin khác

Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ

Quản trị chi phí đào tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực: Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Sao Đỏ

Quản trị chi phí đào tạo theo hoạt động giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, kiểm soát biến động chi phí và hỗ trợ phân bổ nguồn lực hợp lý.
Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh

Công nghệ thông tin y tế và minh bạch viện phí: Khoảng cách giữa nhân viên và người bệnh

Từ khi Nghị định số 60/2021/NĐ-CP có hiệu lực, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập chuyển mạnh sang cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên. Nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh, gồm viện phí do người bệnh chi trả và phần do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán, trở thành nguồn tài chính chủ yếu bảo đảm hoạt động của bệnh viện.
Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Chuyển hóa FDI thành động lực phát triển kinh tế: Vai trò của năng lực hấp thụ công nghệ

Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu, FDI tiếp tục là nguồn lực quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Bên cạnh bổ sung vốn, FDI mang lại công nghệ, kỹ năng quản trị và cơ hội tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Các yếu tố trải nghiệm du lịch đô thị liên quan đến lựa chọn dịch vụ lưu trú cao cấp tại Hà Nội

Trải nghiệm đã trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng trong du lịch và khách sạn, phản ánh sự chuyển dịch từ việc chỉ xem xét sản phẩm hoặc chất lượng dịch vụ sang cách tiếp cận rộng hơn về những gì du khách cảm nhận, suy nghĩ và thực hiện trong quá trình tương tác với điểm đến.
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại  Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Biên Hòa

Trong bối cảnh kinh tế số và thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, thẻ tín dụng ngày càng trở thành sản phẩm quan trọng của ngân hàng bán lẻ nhờ khả năng hỗ trợ thanh toán, chi tiêu ngắn hạn, miễn lãi, trả góp, hoàn tiền và tích điểm.
Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của nội dung tiếp thị do AI tạo ra trên mạng xã hội đến ý định mua thực phẩm thương hiệu Bibigo của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đang làm thay đổi hoạt động marketing, đặc biệt thông qua nội dung tiếp thị do AI tạo ra giúp doanh nghiệp sáng tạo nội dung nhanh hơn, tiết kiệm chi phí và nâng cao mức độ cá nhân hóa
Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Hoàn thiện công tác khai thác và sử dụng đất tại Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) được Nhà nước giao phó trọng trách quản lý một quỹ đất có quy mô khổng lồ, trải dài qua hàng chục tỉnh, thành phố và gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển hàng thế kỷ của ngành đường sắt.
​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

​​​​​​​Vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An

Các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo đã chuyển dần từ cách tiếp cận coi đổi mới là kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển bên trong doanh nghiệp sang quan điểm hệ thống, trong đó đổi mới được hình thành thông qua tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường thể chế, các tổ chức tri thức và các mạng lưới kinh tế.
Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Giải thích ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z tại thị trường Nha Trang

Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng ý định sử dụng túi cá nhân thân thiện môi trường khi mua hàng của Gen Z không chỉ giải mã tâm lý sử dụng của nhóm đối tượng này, mà còn góp phần hỗ trợ cơ quan và doanh nghiệp địa phương triển khai các giải pháp, chính sách khắc phục ô nhiễm môi trường.
Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP tối thiểu 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh đó, vai trò dẫn dắt của đầu tư công đối với khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng.