Giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 14:33 | 07/10/2026
Thị trường bán lẻ giữ vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp trực tiếp vào tổng mức lưu chuyển hàng hóa, tạo việc làm và thúc đẩy tiêu dùng nội địa

TS. Nguyễn Tấn Tâm

Trường Đại học Tài chính - Marketing

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp nhằm đánh giá thực trạng chiến lược marketing và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Kết quả cho thấy tổng mức bán lẻ năm 2024 đạt 6.391,0 nghìn tỷ đồng, tăng 9,0%, trong khi thương mại điện tử bán lẻ tăng trên 20%/năm; tuy nhiên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa còn hạn chế về vốn, công nghệ và quản trị chuỗi cung ứng so với các tập đoàn đa quốc gia. Từ đó, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp: tái cấu trúc sản phẩm và trải nghiệm khách hàng, phát triển marketing đa kênh, ứng dụng công nghệ số và dữ liệu lớn, xây dựng thương hiệu gắn với văn hóa tiêu dùng Việt Nam và hoàn thiện năng lực quản trị marketing, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2025-2030.

Từ khóa: Chiến lược marketing, năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp bán lẻ, thị trường bán lẻ Việt Nam, marketing đa kênh.

Abstract

This article employs a qualitative research approach combined with secondary data analysis to assess the current state of marketing strategies and the competitiveness of Vietnamese retail enterprises during the 2021-2025 period. The findings indicate that Vietnam’s total retail sales reached VND 6,391.0 trillion in 2024, representing a 9.0% increase compared to the previous year, while retail e-commerce recorded an annual growth rate of over 20%. However, the competitiveness of domestic retail enterprises remains constrained by limitations in capital, technology, and supply chain management compared with multinational corporations. Based on these findings, the study proposes five groups of solutions: restructuring products and customer experience, developing omnichannel marketing, applying digital technologies and big data, building brands associated with Vietnamese consumer culture, and enhancing marketing management capabilities. These solutions aim to improve the sustainable competitiveness of Vietnamese retail enterprises during the 2025-2030 period.

Keywords: Marketing strategy, competitiveness, retail enterprises, Vietnam’s retail market, omnichannel marketing.

GIỚI THIỆU

Thị trường bán lẻ giữ vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp trực tiếp vào tổng mức lưu chuyển hàng hóa, tạo việc làm và thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Theo Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2024 ước đạt 6.391,0 nghìn tỷ đồng, tăng 9,0% so với năm 2023 (Lạc Nguyên, 2025). Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam được Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ghi nhận đạt khoảng 269 tỷ USD vào năm 2025, trong khi Bộ Công Thương từng dự báo con số này có thể tiệm cận 350 tỷ USD nếu tính đầy đủ các cấu phần thương mại và dịch vụ tiêu dùng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026; Thảo Thương, 2025).

Đà tăng trưởng ấn tượng về quy mô không đồng nghĩa với sự cải thiện tương xứng về năng lực cạnh tranh của khối doanh nghiệp bán lẻ nội địa. Sự rút lui của một số tập đoàn bán lẻ nước ngoài như Parkson, Auchan, Emart cho thấy thị trường Việt Nam khắt khe hơn nhiều so với nhận định ban đầu, đồng thời phản ánh khoảng trống chiến lược mà các doanh nghiệp am hiểu văn hóa tiêu dùng bản địa có thể khai thác (Minh Dũng, 2025). Ở chiều ngược lại, tỷ trọng bán lẻ hiện đại tuy đã phục hồi lên khoảng 25% năm 2025 sau khi sụt giảm còn 18-19% giai đoạn hậu COVID-19, vẫn thấp hơn tỷ lệ 24% của thời điểm trước dịch, cho thấy quá trình chuyển đổi cơ cấu kênh phân phối chưa thực sự bền vững (Hà Anh, 2025). Song song đó, thương mại điện tử bán lẻ liên tục bứt phá, đạt quy mô 32 tỷ USD năm 2025, tương đương gần 12% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, buộc các doanh nghiệp truyền thống phải tái cấu trúc chiến lược marketing nếu không muốn bị thu hẹp thị phần (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026).

Nhiều nghiên cứu trong nước đã chỉ ra rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn hạn chế về quy mô vốn, trình độ công nghệ và năng lực quản trị hiện đại so với các tập đoàn đa quốc gia (Nguyễn Thị Phượng, 2023; Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026). Trong bối cảnh đó, chiến lược marketing không chỉ đơn thuần là công cụ xúc tiến bán hàng mà đã trở thành yếu tố cấu thành cốt lõi của năng lực cạnh tranh động, giúp doanh nghiệp thích ứng linh hoạt với sự thay đổi nhanh chóng của hành vi tiêu dùng, công nghệ và cấu trúc cạnh tranh ngành (Nguyễn Phương Linh và Cao Tuấn Khanh, 2021).

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, bài viết đặt ra ba mục tiêu nghiên cứu: (i) hệ thống hóa cơ sở lý luận về chiến lược marketing và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ; (ii) phân tích thực trạng thị trường bán lẻ và việc triển khai chiến lược marketing của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2021-2025 dựa trên dữ liệu thứ cấp có kiểm chứng; (iii) đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong giai đoạn tới.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các nguồn có độ tin cậy cao, gồm: báo cáo kinh tế - xã hội và số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2021-2025; báo cáo chuyên đề của Bộ Công Thương và Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số; các công trình nghiên cứu đã công bố trên tạp chí khoa học trong nước.

Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước: (i) thu thập, đối chiếu và tổng hợp dữ liệu thứ cấp về thực trạng thị trường bán lẻ và hoạt động marketing của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam; (ii) phân tích, so sánh xu hướng biến động qua các năm bằng phương pháp thống kê mô tả, thể hiện qua bảng biểu và biểu đồ, làm cơ sở đề xuất giải pháp.

THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

Quy mô và tốc độ tăng trưởng thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2021-2025

Giai đoạn 2021-2025 chứng kiến diễn biến hình chữ V rõ rệt của thị trường bán lẻ Việt Nam. Năm 2021, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 và các đợt giãn cách xã hội kéo dài, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ đạt 4.789,5 nghìn tỷ đồng, giảm 3,8% so với năm 2020 (Tổng cục Thống kê, 2022). Ngay sau khi nền kinh tế mở cửa trở lại, thị trường bán lẻ phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng đột biến 19,8% năm 2022, phần lớn nhờ hiệu ứng nền thấp của năm trước và nhu cầu tiêu dùng dồn nén được giải phóng (Bộ Công Thương, 2024). Từ năm 2023 đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng dần ổn định quanh ngưỡng 9,0-9,6%/năm, phản ánh xu hướng tăng trưởng bền vững hơn sau giai đoạn phục hồi (Bộ Công Thương, 2024; Lạc Nguyên, 2025).

Bảng 1: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Việt Nam, 2021-2025

Năm

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (nghìn tỷ đồng)

Tốc độ tăng trưởng so với năm trước (%)

2021

4.789,5

-3,8

2022

5.679,9

+19,8

2023

6.231,8

+9,6

2024

6.391,0

+9,0

2025 (ước tính)

~7.000

+9,0 đến +10,0

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2022); Bộ Công Thương (2024); Lạc Nguyên (2025).

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Việt Nam, 2021-2025

Giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam

Ghi chú: *2025: Số liệu ước tính

Nguồn: Tổng cục Thống kê; Bộ Công Thương

Về cơ cấu, doanh thu bán lẻ hàng hóa thuần túy luôn chiếm tỷ trọng chi phối, dao động từ 77% đến 78% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong giai đoạn 2023-2024, trong khi các nhóm dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác chiếm phần còn lại (Hà Anh, 2025). Đáng chú ý, quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam tính theo USD đã tăng từ khoảng 142 tỷ USD lên khoảng 269 tỷ USD trong giai đoạn 2021-2025, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường bán lẻ hấp dẫn hàng đầu khu vực Đông Nam Á nhờ quy mô dân số hơn 100 triệu người và tốc độ mở rộng nhanh của tầng lớp trung lưu (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026).

Chuyển dịch cơ cấu kênh phân phối bán lẻ truyền thống và hiện đại

Hiện nay, đặc trưng nổi bật của thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2021-2025 là quá trình chuyển dịch cơ cấu kênh phân phối diễn ra không đồng đều và có tính đảo chiều. Trước đại dịch COVID-19, tỷ trọng bán lẻ hiện đại đạt khoảng 24% tổng thị trường; tuy nhiên do tác động của dịch bệnh và thói quen mua sắm truyền thống vẫn còn bền vững, tỷ trọng này giảm xuống còn 18-19% trong giai đoạn 2021-2022 (Hà Anh, 2025). Đến năm 2025, kênh bán lẻ hiện đại mới phục hồi lên khoảng 25% bình quân cả nước, riêng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đạt 28-30%, cao hơn đáng kể so với các địa phương khác (Hà Anh, 2025).

Bảng 2: Cơ cấu kênh phân phối bán lẻ truyền thống và hiện đại tại Việt Nam

Giai đoạn

Bán lẻ truyền thống (%)

Bán lẻ hiện đại (%)

Trước dịch COVID-19 (2019)

76

24

Giai đoạn hậu COVID-19 (2021-2022)

81-82

18-19

Năm 2025 (bình quân cả nước)

~75

~25

Năm 2025 (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh)

70-72

28-30

Nguồn: Hà Anh (2025).

Sự chuyển dịch chậm này cho thấy kênh bán lẻ truyền thống, bao gồm chợ dân sinh và cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ, vẫn giữ vai trò chi phối trong thói quen mua sắm của phần lớn người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Đây vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp bán lẻ hiện đại trong việc mở rộng thị phần, vừa là dư địa chiến lược cho các mô hình phân phối lai ghép giữa truyền thống và hiện đại.

Sự bứt phá của thương mại điện tử bán lẻ

Thương mại điện tử là điểm sáng rõ rệt nhất trong bức tranh bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2023-2025. Quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ tăng từ 20,5 tỷ USD năm 2023 lên 25 tỷ USD năm 2024, tương đương mức tăng khoảng 20%, và tiếp tục đạt 32 tỷ USD năm 2025, chiếm gần 12% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước, cao thứ hai khu vực Đông Nam Á về tốc độ tăng trưởng (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026). Sự tăng trưởng này gắn liền với làn sóng đầu tư mạnh vào công nghệ số, hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt và các nền tảng bán hàng trực tuyến kết hợp livestream (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026).

Hình 2: Quy mô và tỷ trọng thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam, 2023-2025

Giải pháp hoàn thiện chiến lược marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam

Nguồn: Bộ Công Thương (2024); Cổng Thông tinh điện tử Chính phủ (2026)

Xu hướng phát triển mạnh của thương mại điện tử đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp bán lẻ truyền thống chuyển sang mô hình marketing đa kênh, tích hợp cửa hàng vật lý với nền tảng trực tuyến nhằm tạo trải nghiệm mua sắm liền mạch cho khách hàng. Tuy vậy, khảo sát thực tế cho thấy chỉ một số ít tập đoàn bán lẻ lớn trong nước, như hệ thống của Mobile World hay FPT Shop, đã triển khai tương đối thành công chiến lược này, trong khi phần lớn doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn về nguồn lực công nghệ và tài chính để đầu tư đồng bộ (Nguyễn Thị Hồng Phúc, 2023).

Kết quả hoạt động kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ nội địa

Khảo sát của Vietnam Report năm 2024 đối với doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cho thấy bức tranh phục hồi chưa thực sự đồng đều. Có 74,6% doanh nghiệp ghi nhận doanh thu bằng hoặc cao hơn cùng kỳ năm trước, và 66,3% doanh nghiệp duy trì hoặc cải thiện được lợi nhuận. Tuy nhiên, vẫn còn 25,4% doanh nghiệp bị sụt giảm doanh thu và hơn một phần ba số doanh nghiệp có lợi nhuận kém hơn so với cùng kỳ, cho thấy tốc độ chuyển đổi trạng thái của thị trường chưa thực sự mạnh mẽ và đồng đều giữa các nhóm doanh nghiệp (Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 2024).

Bảng 3: Kết quả khảo sát hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam năm 2024

Chỉ tiêu khảo sát

Tỷ lệ doanh nghiệp (%)

Doanh thu bằng hoặc cao hơn cùng kỳ năm trước

74,6

Duy trì hoặc cải thiện lợi nhuận so với cùng kỳ

66,3

Doanh thu sụt giảm so với cùng kỳ năm trước

25,4

Lợi nhuận kém hơn so với cùng kỳ năm trước

~33,7

Nguồn: Khảo sát của Vietnam Report, dẫn theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo (2024).

Xét về năng lực cạnh tranh tổng thể, khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy doanh nghiệp Việt Nam nói chung, bao gồm khối doanh nghiệp bán lẻ, chỉ chi khoảng 1,6% doanh thu hằng năm cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực như Lào, Philippines hay Malaysia (Nguyễn Bá Huy, 2023). Phần lớn hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tập trung vào đầu tư trang thiết bị, máy móc gắn với công nghệ mới, trong khi năng lực nghiên cứu và phát triển nội sinh còn yếu (Nguyễn Bá Huy, 2023). Đây là một trong những nguyên nhân căn bản khiến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ nội địa, dù có cải thiện, vẫn còn khoảng cách so với các tập đoàn đa quốc gia về quy mô, công nghệ và trình độ quản trị hiện đại (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026).

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

Kết quả nghiên cứu cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2021-2025 đã phục hồi và tăng trưởng ổn định sau cú sốc COVID-19, với quy mô ngày càng mở rộng và thương mại điện tử trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ nội địa vẫn còn nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị chiến lược marketing hiện đại. Nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược marketing, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong giai đoạn 2025-2030.

Một là, tái cấu trúc chiến lược sản phẩm và trải nghiệm khách hàng.

Doanh nghiệp bán lẻ cần chuyển dịch trọng tâm từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng giá trị trải nghiệm, thông qua việc đầu tư đồng bộ vào không gian mua sắm, chất lượng phục vụ và cá nhân hóa sản phẩm theo mô hình 7P của Booms và Bitner (1981). Việc phát triển các dòng sản phẩm nhãn hàng riêng gắn với bản sắc tiêu dùng địa phương cũng là hướng đi giúp doanh nghiệp nội địa tạo sự khác biệt so với các tập đoàn nước ngoài.

Hai là, phát triển chiến lược marketing đa kênh phù hợp với từng phân khúc thị trường.

Do mức độ chuyển đổi kênh phân phối không đồng đều giữa các địa phương, doanh nghiệp cần thiết kế chiến lược marketing đa kênh theo hướng phân tầng: tại các đô thị lớn, ưu tiên tích hợp sâu giữa cửa hàng vật lý, thương mại điện tử và mạng xã hội; tại khu vực nông thôn, duy trì vai trò của kênh phân phối truyền thống kết hợp từng bước số hóa khâu thanh toán và quản lý hàng tồn kho.

Ba là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và dữ liệu lớn trong quản trị marketing.

Doanh nghiệp bán lẻ cần tăng tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đặc biệt là các giải pháp phân tích dữ liệu khách hàng, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình chăm sóc khách hàng, nhằm thu hẹp khoảng cách với chuẩn mực chi tiêu cho đổi mới sáng tạo của khu vực. Nhà nước và các hiệp hội ngành hàng cần có chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo nhân lực số cho nhóm doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ.

Bốn là, xây dựng và định vị thương hiệu bán lẻ nội địa gắn với văn hóa tiêu dùng Việt Nam.

Lợi thế am hiểu thị hiếu, tâm lý và văn hóa mua sắm của người tiêu dùng trong nước cần được chuyển hóa thành chiến lược định vị thương hiệu rõ ràng, thay vì cạnh tranh trực diện về quy mô vốn với các tập đoàn đa quốc gia, phù hợp với định hướng chiến lược khác biệt hóa và tập trung theo Porter (1985).

Năm là, hoàn thiện năng lực quản trị chiến lược marketing và phát triển nguồn nhân lực marketing chuyên nghiệp.

Doanh nghiệp cần xây dựng bộ phận marketing chuyên trách có năng lực hoạch định chiến lược dài hạn, gắn kết chặt chẽ với chiến lược kinh doanh tổng thể, đồng thời tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo nhằm phát triển đội ngũ nhân lực marketing số đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong giai đoạn mới.

Những giải pháp nêu trên cần được triển khai đồng bộ, có sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và cơ quan quản lý nhà nước, nhằm giúp doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam không chỉ giữ vững thị phần trên sân nhà mà còn từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng khảo sát định lượng trên mẫu doanh nghiệp cụ thể để kiểm định mức độ tác động của từng thành phần chiến lược marketing đến năng lực cạnh tranh, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm chi tiết hơn cho các khuyến nghị chính sách.

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh thị trường bán lẻ Việt Nam chuyển dịch mạnh theo hướng số hóa, đa kênh và lấy khách hàng làm trung tâm, hoàn thiện chiến lược marketing trở thành yêu cầu quan trọng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu giai đoạn 2021-2025 cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực, thể hiện qua tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2024 đạt 6.391,0 nghìn tỷ đồng, tăng 9,0%, trong khi thương mại điện tử bán lẻ tiếp tục tăng trưởng trên 20% mỗi năm. Những biến động này tạo ra cơ hội mở rộng thị trường nhưng đồng thời gia tăng áp lực cạnh tranh, đặc biệt đối với doanh nghiệp nội địa trước sự hiện diện ngày càng lớn của các tập đoàn bán lẻ có tiềm lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị vượt trội.

Nghiên cứu cho thấy hạn chế chủ yếu của doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tập trung ở khả năng đổi mới sản phẩm, tích hợp các kênh bán hàng, khai thác dữ liệu khách hàng, xây dựng thương hiệu và tổ chức hoạt động marketing theo hướng dài hạn. Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh không nên chỉ dựa trên chính sách giá mà cần chuyển trọng tâm sang tạo lập giá trị khác biệt và trải nghiệm khách hàng. Năm nhóm giải pháp được đề xuất gồm tái cấu trúc sản phẩm và trải nghiệm khách hàng; phát triển marketing đa kênh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và dữ liệu lớn; xây dựng thương hiệu gắn với văn hóa tiêu dùng Việt Nam; đồng thời hoàn thiện năng lực quản trị marketing và chất lượng nguồn nhân lực.

Trong giai đoạn 2025-2030, hiệu quả của chiến lược marketing phụ thuộc đáng kể vào khả năng phối hợp giữa công nghệ, dữ liệu, thương hiệu và năng lực tổ chức. Vì vậy, doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần chuyển từ tư duy marketing ngắn hạn sang quản trị marketing tích hợp, lấy khách hàng và dữ liệu làm nền tảng, qua đó hình thành lợi thế cạnh tranh khó sao chép và nâng cao khả năng phát triển bền vững trong môi trường bán lẻ ngày càng cạnh tranh.

Tài liệu tham khảo:

1. Booms, B. H., & Bitner, M. J. (1981). Marketing Strategies and Organization Structures for Service Firms. In J. H. Donnelly, & W. R. George (Eds.), Marketing of Services (pp. 47-51). Chicago, IL: American Marketing Association.

2. Bộ Công Thương (2024). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,6%. https://moit.gov.vn/tin-tuc/thi-truong-trong-nuoc/to-ng-mu-c-ba-n-le-ha-ng-ho-a-va-doanh-thu-di-ch-vu-tieu-du-ng-tang-9-6-.html

3. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026). Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam đạt khoảng 269 tỷ USD. https://baochinhphu.vn/quy-mo-thi-truong-ban-le-viet-nam-dat-khoang-269-ty-usd-102251230111145424.htm

4. Hà Anh (2025). Bức tranh nào cho thị trường bán lẻ năm 2025. https://nhandan.vn/buc-tranh-nao-cho-thi-truong-ban-le-nam-2025-post856890.html

5. Lạc Nguyên (2025). Cơ hội và triển vọng thị trường bán lẻ năm 2025. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/co-hoi-va-trien-vong-thi-truong-ban-le-nam-2025-171512.html

6. Minh Dũng (2025). Cơ hội bứt phá cho ngành bán lẻ Việt Nam năm 2025. https://nhandan.vn/co-hoi-lon-cho-nganh-ban-le-post862408.html

7. Nguyễn Phương Linh, & Cao Tuấn Khanh (2021). Mối quan hệ của năng lực hấp thụ, tích hợp đa kênh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ. Tạp chí Khoa học Thương mại, 152(5), 26-37.

8. Nguyễn Thị Phượng (2023). Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ nội địa. Tạp chí Công Thương. https://tapchicongthuong.vn/giai-phap-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua-doanh-nghiep-ban-le-noi-dia-106321.htm

9. Nguyễn Thị Hồng Phúc (2023). Giải pháp phát triển kinh doanh thương mại trên nền tảng số cho doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. https://tapchicongthuong.vn/giai-phap-phat-trien-kinh-doanh-thuong-mai-tren-nen-tang-so-cho-doanh-nghiep-ban-le-viet-nam-106227.htm

10. Nguyễn Bá Huy (2023). Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. https://kinhtevadubao.vn/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cua-cac-doanh-nghiep-viet-nam-trong-thoi-ky-hoi-nhap-29315.html

11. Porter, M. E. (1985). Competitive advantage: Creating and sustaining superior performance. Free Press.

12. Tạp chí Kinh tế và Dự báo (2024). Triển vọng khởi sắc ngành bán lẻ năm 2024 và thời gian tới. https://kinhtevadubao.vn/trien-vong-khoi-sac-nganh-ban-le-nam-2024-va-thoi-gian-toi-30026.html

13. Thảo Thương (2025). Ngành bán lẻ năm nay dự báo đạt 350 tỉ USD. https://tuoitre.vn/nganh-ban-le-nam-nay-du-bao-dat-350-ti-usd-202501100833562.htm

14. Tổng cục Thống kê (2022). Các động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/cac-dong-luc-tang-truong-kinh-te-viet-nam-nam-2021/

Ngày nhận bài: 14/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/9/2026; Ngày duyệt đăng: 6/10/2026

Các tin khác

Thực hành ESG tại ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thực hành ESG tại ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong bối cảnh thế giới phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn về môi trường (biến đổi khí hậu, ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên,…) và các vấn đề xã hội (bất bình đẳng, đói nghèo,…) việc chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững và thực hành ESG đã trở thành xu hướng phổ biến, cấp bách và mang tính toàn cầu.
Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Chính sách ưu đãi và hỗ trợ phát triển sản phẩm nhựa thân thiện môi trường: Kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lý cho phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường, tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này vẫn gặp những rào cản nhất định. Kinh nghiệm quốc tế gợi mở hướng hoàn thiện và tăng cường tính liên kết giữa các công cụ chính sách.
Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.